Bình Định online

Cơ quan Thông tin truyền thông vỉa hè

Chùm truyện ngắn “Đường xa vạn dặm” của Lê Hoài Lương


Cập nhật: 18:37:00 5/3/2011 – trang web http://hoinhavanvietnam.vn

VanVn.Net – Mấy năm trước, khi Lê Hoài Lương xuất hiện với các truyện ngắn kinh dị về kiếp nhân sinh, hẳn có người cật vấn: Người này còn trẻ, sao lại cứ chọn nẻo khuất và hiểm ngặt của hun hút nhân tính mà đi? Đến chùm truyện này, nẻo khuất ấy đã thành đường, thành thi pháp. Nó cũng cắt nghĩa thêm về sứ mệnh của văn chương là phát hiện về con người; đi men theo lối nhỏ ấy, Lê Hoài Lương phát hiện ra tính nhòe mờ giữa thiện và ác, giữa người và ma, giữa Sa Tăng, Phê Rô và Giu Đa. Nhưng đáng kể nhất là ông đã nhìn cái xấu bằng con mắt của vị tha và truyện ngắn do đó thấm đẫm nhân ái mặc dù chỉ kể về những chuyện cay đắng hay hão huyền…

 

 

 

Đôi giày chỉ là đôi giày khi nó được sử dụng, được mang vào chân đi trên đường hay đứng một chỗ chụp hình cũng được. Nó kia, trong tủ kính, bên cạnh bộ lễ phục. Nó được sử dụng hai lần. Lần ông được cấp phát cùng bộ lễ phục hôm chính thức nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang. Và lần đi trên đường cái quan thời bình trong đội hình danh dự Rước đuốc truyền thống cùng những lãnh đạo cấp tỉnh, những chiến sĩ thi đua, những điển hình tiên tiến các cơ quan ban ngành, tóm lại là những gương mặt sáng trưng của xã hội, những gương mặt thường nghiêm trang quan trọng khi xuất hiện trước bàn dân thiên hạ. Lần đầu để chụp hình thì không sao. Lần hai ông suýt bị cưa chân. Cái chân làm nên kỳ tích trong chiến tranh đưa ông có mặt vào danh sách anh hùng của đất nước anh hùng một thời hào hùng. 

Tất nhiên ông cũng đã chiến đấu dũng cảm, đã từng có vài huy chương, cũng bắn hạ một vài kẻ địch và suýt nữa thì bắn rơi chiếc trực thăng. Nó chỉ bị thương, niêng niểng bay về và dừng cuộc truy sát tổ ba người bị lộ của ông.

 

Nhưng hãy nói về cái chân anh hùng.

 

Đó là trận công đồn Phụ Sơn, cái đồn án ngữ bên lộ 3, đồn chỉ có một đại đội bảo an nhưng vì tính chất quan trọng của nó nên được bố phòng rất kỹ. Lô cốt, hầm hào, địa đạo… rồi hệ thống hỏa lực. Ai cũng biết nguyên lý đơn giản của đánh công kiên là phải chuẩn bị binh ba hỏa bảy. Rồi điều nghiên hệ thống phòng thủ, con người… Nhưng bại te tua vì khác, chuyện khác, lẽ khác.

 

Là có thứ cổ điển thành hiện đại, với riêng trường hợp ông. Trận đánh để lại vài chục đồng chí về với đất khi không chiến thắng chẳng là cái đinh gì trong mấy triệu máu xương, nhưng hiện đại ở chỗ, trong cái bại thường thường này đã có một anh hùng. Là ông. Lê Danh. Tên gốc là Lê Văn Danh. Sau này do sơ xuất ở các Sở Lao động thương binh xã hội, chuyện các hài cốt liệt sĩ quy tập về nghĩa trang liệt sĩ cứ ghi chữ vô danh nếu không có tên mới thành chuyện.

Lại nói chuyện bàn chân. Trận công đồn Phụ Sơn. Có một chút sai lầm sau bao quyết tâm hừng hực: không phải các hệ thống phòng thủ trong hàng rào mà tai họa, chuyện đang kể là từ ngoài hàng rào. Không ai ngờ, cả những trinh sát (họ không gặp thì ngờ cái nỗi gì), rằng, có một thứ vũ khí cổ điển, rất cổ điển đã lặng lẽ bảo vệ đồn Phụ Sơn: những bàn chông, chắc chính xác hơn là những mũi chông ba khía bằng sắt. Tất cả dường như đã có liệu định, đã có những thông tin, quanh đồn chỉ bổ sung phòng thủ bằng hàng trăm hàng ngàn những mũi chông sắt này. Chuyện trận đánh thất bại không phải vì chông, mà vì tinh thần không hơn tính toán, chuyện tôi kể chỉ riêng tôi, cái chân và các mũi chông. Tôi xuông đòn vì chông chứ không phải vì đạn nên còn sống đây và kể chuyện anh hùng đây. Chuyện này được kể ở nhiều trường học sinh nghe thích lắm về những vĩ đại truyền thống của cha ông.

 

Cái chông kinh dị này xuyên qua dép lốp, xuyên qua bàn chân tôi, đau thấu trời. Ráng ngồi xuống rút nó ra nhưng không được, mũi chông có ngạnh ngược. Chưa biết sao thì nghe có tín hiệu rút lui, không thể dọn cái Phụ Sơn này dù mình có đến một tiểu đoàn. Đã có những sai lệch so với các thông tin với hy vọng và sẽ tổn thất nhiều hơn nếu cứ hăng liều không tính toán. Vậy là rút lui. Tôi chẳng lẽ ở lại để rơi vào tay địch. Thì cứ cà nhắc chạy về hướng đơn vị đóng quân. Có mấy cây số mà phải nửa ngày tôi mới về gần tới. Thấy cây sộp quen thuộc là ngã ạch. Không biết ai phát hiện ra tôi miên man kiệt chết không biết ai đã cưa cây sắt mũi chông để rút nó ra khỏi chân tôi nhưng vật này được trang trọng có mặt ở bảo tàng tổng hợp tỉnh với chú giải rằng anh hùng Lê Danh đã mang nguyên nó chạy gần chục cây số! Nhiều người sau này cứ hỏi mãi rằng vì sao có thể chịu đựng được cái đau ghê gớm vậy, tôi nói không thấy đau, vì lúc đó không chầm chậm chạy sẽ chết nhanh, chết rất nhanh trong cuộc truy kích của lính đồn. Tôi cũng định thành thật kể chuyện vậy trong cuộc “báo công” ở hội nghị quân khu tổ chức nhưng các anh kiên quyết không cho. Còn ra mặt mũi gì người chiến sĩ giải phóng anh hùng chỉ vì sợ chết mà thoát chết? Vậy là nói theo các anh, vậy là không nói lúc đó nếu không chầm chậm chạy ra khỏi vùng truy kích của địch thì chắc sẽ nhận cái chết nhanh. Vậy là cuộc “báo công” anh hùng thành công tốt đẹp. Tuy bây giờ vết sẹo ở mu bàn chân phải của tôi còn nguyên đây nhưng nó thực sự thành quá khứ, nhiều lúc tôi cũng quên không biết vì sao trên mu bàn chân mình có vết sẹo to vậy? Có điều lạ, tôi đau không nhiều như thiên hạ nghĩ. Và cũng vì không ai dám làm cuộc thử nghiệm kiểu này để mô tả nên đoạn văn này tôi yêu cầu ông bạn nhỏ của tôi ghi ngôi thứ nhất.

 

Ông cười cười nói về chiến tích của mình. Không hẳn kiểu nói giỡn làm sang. Ông cười cười mà mặt buồn xo. Anh hùng gì hở trời, mấy triệu người tiêu tan mấy vạn nhà cửa làng mạc còn sống được là may, may lắm rồi còn gì.

 

Chuyện cái chân suýt bị cưa thế này. Do suốt đời đi chân không nông dân chuyện giày không quen. Trong đoàn người danh dự hôm đó, bộ lễ phục hơi bó buộc nhưng ráng được. Còn giày thì kinh hoàng. Bắt đầu đau, rát. Cứ tới thị trấn dừng lại làm mấy thủ tục nghi lễ là ông lẻn ra sau xin mấy cục đá lạnh chườm chân để vơi cái đau rát. Lại tiếp tục hành trình vạn dặm. Lại chườm bằng đá lạnh. Cứ thế đến muôn đời. Rồi kết thúc khi bàn giao đuốc cho tỉnh bạn. Về bằng ô tô, ông cởi giày vứt trên xe mọi người điếng hồn ngó đôi chân đã dị dạng của ông. Nó to gần gấp hai bình thường và đủ màu, trắng tím xanh đỏ đen gì cũng có cả.

 

À quên, kể thêm điều này, chuyện rước đuốc cũng đem lại nhiều lợi ích. Trước tiên là mấy người thợ gò hàn, bát ngát sản phẩm đuốc được đặt hàng. Đây là lợi ích vật chất cho hàng trăm lao động các tỉnh. Còn lợi ích tinh thần thì lớn hơn nhiều vì bài học truyền thống, tự hào dân tộc rất trực quan sinh động.

 

Trở lại chuyện đôi chân ông Lê Danh anh hùng. Mọi người thì thấy nó kinh dị nhưng ông không thấy vì cố gắng cuối cùng của ông là cởi được nó, đôi giày, ra khỏi chân mình. Ông tỉnh lại ở bệnh viện ngơ ngác. Đôi chân băng kín. Cô điều dưỡng mừng ra mặt nói bác ơi nhờ sự tận tình chăm sóc của các y bác sĩ lương y như từ mẫu nên chân bác không bị cưa đó. Ông ngơ ngác như nghe chuyện cưa chân mà bọn cảnh sát cưa chị Ngộ, cưa nhiều lần nhiều khúc để tra hỏi mà không có thuốc mê. Cưa bằng lưỡi cưa lá cưa gỗ của Mỹ sau này thợ hồ rất thích vì nhờ thợ rèn làm bay xây bay tô rất êm rất lâu mòn. Mà vẫn không khai các đồng chí của mình đang ở đâu. Tới giờ chị này cũng chưa được phong anh hùng. Nhưng ông phục chị hơn chuyện cái chông ở chân mình. Người đàn bà nhiều lần bị cưa chân cưa nhiều khúc không có thuốc mê này chịu đựng sự đau đớn hơn ông nhiều lần. Ông nói vui rằng chuyện anh hùng cũng có tính hên xui, cũng được xây dựng, nói cái giọng thời internet là cũng được lập trình.

 

Đường thì mỗi người có cách đi riêng, đi theo thói quen, đi theo đường mòn cùng số đông, hay đi như mớ ngủ, đi cái đường không chọn mà vì tình thế, vì ham vui thì cũng là đi. Cũng như con đường vinh quang của ông, con đường người khác dựng lên cho ông nếu không nói nó đẹp và sang quý thì nói gì hở trời hở người?

 

Rồi cũng ra viện sau bốn tháng điều trị và điều quan trọng là đôi chân của ông vẫn còn nguyên, trồi sụt chút đỉnh, đi cà nhắc chút đỉnh. Chân ông đã trở lại bình thường chứ không còn dị dạng như cuộc hành quân thiên lý và lạ lùng là hình như đôi giày sau cuộc đó đã nhỉnh hơn về cỡ kích. Chắc là tại người ta làm dối.

 

Trại viết VNQĐ, Bến Tre ngày 10 tháng 7 năm 2010

TÔI CHỈ NGẮM VỢ TÔI LÚC NÀNG SAY NGỦ

 

1.

Nếu còn sống tôi cũng đã ngoài trăm tuổi. Thỉnh thoảng tôi về ngắm lại nàng lúc nàng say ngủ. Nàng không đẹp không xấu, không thiện không ác. Giờ nàng cũng đã gần tám mươi, nàng sinh năm Canh Ngọ. Không phải vì gần tám mươi mà nàng thành ra thế. Thời trẻ nàng vẫn vậy. Vả chăng, đẹp xấu, thiện ác, cao thấp, sang hèn… đều do ý nghĩ người đời, miệng người đời nói ra mà thành. Có lúc thế này là cao, lúc khác xem rằng thấp, phải trái, thương ghét, thù địch, bạn bè cũng cứ thay đổi theo mùa hệt như thời tiết, có gì đáng để bận tâm.

 

Nhưng có mấy lần tôi ngắm nàng, ngắm thực sự khi phát hiện kiểu nàng nói tiếng Pháp như mấy người nói tiếng bồi ở Việt Nam lúc nàng làm chân chạy bàn một quán cà phê ở Dakar, Senegal. Tôi đã thử, cô là người Việt phải không? Hỏi bằng tiếng Việt. Nàng sững người rồi mừng vui trả lời bằng tiếng mẹ đẻ. Thời gian đi dạy mấy tháng của tôi ở đất nước Châu Phi xa xôi này đủ để tôi biết nàng thực ra không chỉ sống bằng nghề chạy bàn quán cà phê, tối tối nàng làm điếm. Tôi đã lo mọi thủ tục cần thiết “nhặt” nàng về Việt Nam làm vợ. Cũng được. Chuyến xuất ngoại lần trước sang Pháp theo lời mời của Bộ Giáo dục nước này, tôi đã dùng khoản tiền “chênh lệch” trước khi về đi một vòng quanh nước Âu này cho thỏa chứ không về nộp lại như quy định. Nghe người ta phê bình cứ thiệt thà khai báo vậy rồi cũng qua, tiền xài hết rồi và tôi có chức tước gì mà cách. Chuyến này về tiền hết nhưng kèm theo người. Một người Việt lưu lạc, cần lao chính hiệu. Việc xác định nhân thân nàng khá dễ dàng và dẫu gì tôi cũng đã đưa cô gái Việt này về, dẫu gì tôi cũng tới trình báo chính quyền đăng ký cô là vợ, dẫu gì nghe chuyện, mọi người đều thấy tôi đưa được một thân phận vậy về với đất nước ta, dân tộc ta, chế độ ta là phải đạo, là tôn vinh dân tộc, tôn vinh chế độ, nên tuy tôi có xài hết tiền dôi dư đi công tác nước ngoài mà không nộp lại cũng là làm điều có ích. Và nàng chính thức làm vợ tôi trong con mắt mọi người, người quản lý, cơ quan, và chung quanh. Không phải trong mắt người, trong quản lý xã hội, chúng tôi là vợ chồng thật. Có vẻ ai cũng nghĩ chuyện tôi lấy vợ như một ngoại lệ. Tôi gần năm mươi rồi còn gì. Nghĩ sao cũng được, nàng là vợ tôi, tới giờ, khi tôi đã chết nhiều năm và thỉnh thoảng nàng ngủ say mới dám về ngắm nàng. Nàng không đẹp không xấu không thiện không ác, đẹp xấu thiện ác là do cách nghĩ cách nói của người đời.

 

Tôi là ai? Người bảo tôi là “nhà” này “nhà” nọ khi tôi viết mấy cuốn sách. Người gọi tôi là thầy khi tôi được mời dạy học, trong nước hay ngoài nước. Có người cứ tương cho tôi mấy học hàm học học vị, cũng do người đời nói ra mà thành, ghi lại mà thành thôi mà. Tôi không biết có đúng mình vậy không. Tôi chết rồi. “Tự cổ thánh hiền giai tịch mịch”, huống chi là tôi lơ ngơ làm thuê, thuê gì làm nấy để sống.

 

2.

– Ông ấy con nhà nòi đấy! Bố là K… làm tới chức… triều đình. Anh em đều là bậc trí giả lớn, ông A là…, ông B là…!

– Ông ấy tinh thông cả Pháp ngữ, Hán ngữ đấy!

– Thì đấy, cứ đọc sách của ổng đi là biết.

– Nghe chú mình bảo ổng dám nói rằng “những gì người Pháp đã làm, chúng ta không thể thay thế được”. Các sách của ông đều chỉ là bổ sung những thứ người Pháp chưa kịp làm.

– Ừ, thì có thể nào làm hết mọi việc của mọi thời đâu.

– Lão được gọi là pho từ điển sống cũng xứng đáng, gì cũng biết!

– Cứt! Học giả học thật, trí thức trí ngủ gì. Nom ông ấy trên đường, mũ vải nhàu nhò, áo quần công nhân nhếch nhác, gày gò như thằng ăn mày! Tôi ở chung khu nhà với ông ta, vài lần ngồi cùng bàn uống vại bia, hỏi thăm mấy thứ thằng con đang học lớp ba hỏi, cái gì ổng cũng lơ mơ nói “cái đó mình không biết” rồi dương bộ mặt ngái ngủ lên ngó mọi người như thằng đần… Làm gì người bậc trí như mấy vị nói mà sắm mụ vợ sư tử Hà Đông tăm tối vô học, suốt ngày nhặt hết mọi thứ có trên người ông ta, từ tem phiếu mới nhận đến đồng bạc còm nhuận bút một cuốn sách vậy?

– Cái thời khốn khổ ấy mụ vợ hộ pháp của ông ta hành xử vậy có gì sai?

– Ừ thì ai nói sai, nhưng thấy nó khốn nạn thế nào ấy. Dẫu gì ổng cũng là một trí thức có cỡ. Lại là ân nhân đưa mình ra khỏi cuộc phiêu dạt thê thảm xứ người.

– Các ông chỉ ăn theo nói leo cái giọng đạo đức. Mụ hận vì thà để mụ làm điếm ở trời Phi xa xôi kia còn sướng hơn theo ổng về nước. Tôi cuộc rằng nếu biết về cùng ổng thành vợ thành chồng mà khổ thế này, mụ ấy đã chắp tay vái từ ông chồng trí thức vái đến cái đất nước sinh ra mụ…

– Ông cứ lấy sự hiểu biết của ông mà áp vào người đàn bà vô học. Mụ chả nghĩ ngợi gì sâu xa đâu.

– Thôi, việc gì mấy ông cứ tưởng tượng ra chuyện mụ ấy nghĩ gì. Tôi nể ổng vì dù học cao hiểu rộng, thậm chí là người xung phong Nam tiến năm 1946 vẫn không hề nghĩ tới chuyện may còn sống trở về sẽ được làm ông này bà kia.

– Nhầm rồi ông ơi, nhầm đứt đuôi con nòng nọc. Các vị cứ tưởng. Ổng cũng muốn làm quan chức lắm đó. Một lần ổng nhận làm chức tổ trưởng công đoàn tổ, làm một năm. Năm sau thấy không đạt tập thể tín nhiệm bầu người khác ổng buồn đến cả tuần, chính miệng ổng nói ra chứ không phải tớ đơm đặt đâu.

– Hơ hơ, ổng nói ra điều đó thật nhưng là cách nói của một trí ngủ cố tình. Ổng biết nếu không vờ vịt thế không thể sống bình yên được.

– Nghe nói khi ổng vào tỉnh B, được một người bạn tiến cử đến một cơ quan quản lý văn hóa để làm công trình nghiên cứu gì đó về văn hóa lịch sử dân tộc học địa phương này, đồng chí giám đốc dù nghe tên tuổi ông nhưng kiên quyết không tiếp vì “có giáo sư tiến sĩ gì đến cơ quan nhà nước cũng không thể tóc dài ngang vai, ăn mặc tuềnh toàng thế. Bảo ông ta về ăn mặc đúng quy định khi đến cơ quan công quyền”. Ổng mất một cơ hội, hà hà…

-…

 

3.

Mới sáng sớm ông nghe chuông réo. Người vợ càu nhàu: “Ông nổi tiếng chẳng được gì, chỉ làm tôi mất ngủ. Chắc thằng dở hơi nào đó cầu cạnh hay hỏi ý kiến gì về mấy cái thứ không công của ông!” Ông cười làm lành người đàn bà biết ăn ngủ biết làm tình. Dẫu gì cô ta cũng nhiều lần cho ông nếm những tuyệt kỹ chuyện giường chiếu. Ông uể oải lại bắt máy. Giọng nữ. Liếc về phía người đàn bà ngồn ngộn vâm váp, ông nhỏ nhẹ: “Tôi nghe đây”. Giọng nữ, giờ rõ ra là còn rất trẻ: “Thưa thầy, em là sinh viên năm cuối khoa dân tộc học. Biết thầy rất am hiểu văn hóa các dân tộc. Thầy có thể giúp em những nét chính của văn hóa các dân tộc Tây Nguyên được không ạ? Đây là luận án tốt nghiệp của em.” “Tôi cũng muốn giúp cô nhưng vấn đề này rộng lắm. Cô phải nói rõ là cô cần cụ thể mảng nào? Thôi nhé, nghĩ kỹ đi rồi điện lại cho tôi sau. Khoa học là chính xác chứ không phải chung chung.” Đầu dây bên kia ngớ ra một chút rồi tắt tín hiệu.

 

4.

Chắc là tôi đã từng yêu nàng. Như việc tôi cầm súng lên tàu nam tiến. Hoàn toàn tự nguyện. Quốc gia lâm nguy thất phu hữu trách, chúng tôi được dạy làm người, và đã hăm hở làm khi có một ngọn cờ chính thống phất lên, một hồi kèn hiệu triệu trỗi lên. Có thể khác được không? Trên chuyến tàu năm ấy có đủ mọi thành phần nhưng đều hướng về một đích đến. Và điệp điệp máu xương như nhau. Ví dụ máu xương tôi có khác gì xương máu một nông dân, một công nhân, dù tôi có học hành hơn họ chút đỉnh. Chút đỉnh này cũng nhờ ông cha tôi đã làm được đôi điều, đã tích lũy đôi chút chứ có phải cá nhân tôi gầy dựng đâu? Nên, tôi thấy tôi và họ, những người thất học trên chuyến tàu ngang nhau, dĩ nhiên máu xương càng không thể khác. Đâu có máu nào đỏ hơn. Đâu có xương thịt nào ít đau hơn khi bị xuyên phá? Và sao tôi không yêu nàng cùng máu xương, thịt da như tôi?

 

Tôi đã nghe tiếng Việt của nàng lạc lõng ở trời Phi xa xôi, cái tiếng Việt lầm than lưu lạc và tủi nhục. Tôi có thể không yêu nàng không? Nhưng khi nàng đã là của tôi, tôi chỉ dám ngắm nàng lúc nàng say ngủ. Bởi vì lúc nàng ngủ nàng là tôi. Chỉ là tôi khi nàng say ngủ.

 

Đêm nay tôi lại về ngắm nàng. Xơ xác tiều tụy nhiều dù vẫn còn nguyên nét hừng hực tiến công, có thể chỉ là thói quen, có thể là cuộc phòng thủ vô thức vì biết đã đến thời tàn tạ. Nhưng ai đó đừng dại mồm dại miệng nói ra điều này với nàng. Nàng chắc tự biết nhưng không thể chấp nhận cái sự thật ấy ném vào mặt nàng. Kẻ dại dột đó sẽ phải trả giá. Chắc chắn trả giá. Tôi hiểu nàng lắm. Tất nhiên rồi cũng sẽ tới lúc nàng nhảy vô quan tài, tới lúc nàng không làm ai lo âu nữa. Nhưng lúc đó tôi sẽ nghĩ cách sống lại. Chẳng biết có thực hiện được không nhưng tôi sẽ cố sống lại. Cuộc trùng phùng với nàng một lần trong đời là quá đủ.

 

5.

– Thật rắc rối, cuối cùng lão là gì?

– Là người chứ là gì.

– Thì ai chẳng biết, không lẽ là cục đất. Nhưng như tớ đây, lúc nào tớ ngắm vợ tớ chẳng được, cả lúc nàng tắm, thay đồ, nàng trang điểm, khi làm tình, sau khi làm tình… ngắm lúc nào chẳng được, việc gì chỉ ngắm lúc nàng say ngủ? Thần kinh lão này có vấn đề!

– Nhưng lão tự nói ra bằng lời thế. Còn bảo khi vợ thức dậy là lão bỏ chạy mất dép. Chắc lão có hàm ý gì đó, cái giới trí thức đều có chút điên điên hay sao ấy.

– Lão viết sách và dạy học trò, không chỉ trong nước. Cho tới khi chết. Có ai nói lão điên đâu?

– Thì điên điên chứ ai nói điên.

– Thôi kệ xác lão. Có thể lão bị ám ảnh một điều gì đó.

 

6.

Nếu còn sống tôi cũng đã ngoài trăm tuổi. Thỉnh thoảng tôi về ngắm nàng lúc nàng say ngủ. Nàng không đẹp không xấu không thiện không ác. Vả chăng đẹp xấu thiện ác bạn bè thù địch đúng sai tôn trọng coi khinh…, cũng đều từ ý nghĩ, lời nói của con người mà thành, và nhanh chóng thay đổi như thời tiết, có gì đáng bận tâm. Nàng là tôi mà cũng không phải là tôi. Dường như tôi cũng từng yêu nàng.

 

Tôi bắt đầu sốt ruột. Cái truyện ngắn cứ trở đi trở lại một câu, một cụm ý tưởng mà thấy mọi thứ trôi tuột vào mông lung, rời rạc và vô nghĩa. Nhân vật tôi cũng gắn với lịch sử, cũng rắc rối nhiều chiều trong ý nghĩ người đời mà vẫn cứ nhạt, và không biết kết thúc thế nào. Đã vài năm truyện chưa thành này nằm trong máy tính rồi quên lửng. Cho đến một hôm, chị biên tập viên một tờ báo văn gọi điện hỏi có viết được gì mới không? Nói có, và viết thêm thế này, nghĩ là đã thành truyện.

 

Nhưng nàng không có thật. Nàng chỉ là giấc mơ lãng mạn và điên rồ nhất. Hãy xem ngay cả lúc tột cùng tàn tạ của nhan sắc gần tám mươi, bỗng nhiên trong ngủ, khóe mắt nàng ứa ra hai giọt lệ. Nó lóng lánh ngũ sắc. Của tôi. Của riêng tôi. Chắc thế.

 

Bão số 11, 2009

 

NGƯU HOÀNG

 

Riết rồi lão cũng tìm thấy nó. Đúng ra, nó tự tìm đến. Nó. Chỗ bấu víu cuối cùng.

Niềm hy vọng cuối cùng. Mấy năm trước đây, tất cả đổ dồn vào một kết luận: lão sắp chết. Không tài nào lão biết cụ thể là những ai đã nói, mấy đứa con trai phá gia chi tử hay gã bác sĩ tới thăm bịnh hay gã thầy thuốc nam người Miên. Hay tiếng nói từ chính cơ thể rệu rão của lão. Lão sẵn sàng trả món chén bát cổ để được biết chính xác là kẻ nào nói điều đó. Tuy nhiên, lão rất tin vào dự báo khốn nạn này. Và lão về ở hẳn khu vườn, ngôi nhà của ông bà cha mẹ để lại. Khu vườn rộng cả mẫu đất chung quanh bao bọc hàng tre kín như bưng trừ khoảng cổng ngõ và hàng rào chè tàu phía trước. Ngôi nhà lá mái và toà ngang dãy dọc nhà lẫm nhà ăn nhà kho nhà bếp của một thời huy hoàng tấp nập người ra kẻ vào, người ở đợ, trai cày… Một thời nhà lẫm đầy lúa gạo, kho chất hàng đống bí đao bí đỏ, dãy chum lớn cả chục cái đựng đường, đậu xanh, đậu đen, dầu phộng… Cái thời tiệc tùng cúng giỗ rình rang vài ba ngày với đủ các loại quan khách, họ tộc và ăn mày… Lâu nay khu vườn và ngôi nhà giao cho những đứa cháu canh tác, cai quản. Thay nhau mấy lớp. Khi thì thằng Sáu cháu ông thợ Tạo ngày xưa dựng nhà cho ông nội lão. Cũng lạ, ngôi nhà lá mái chạm trỗ công phu tất cả những gì thuộc về gỗ, trừ nền đất nện, mái, vách, cửa nẻo đều hai lớp, người thợ nào đã được chọn coi như ăn dầm nằm dề năm này qua năm khác mới làm xong và sau đó trở thành người thân của gia chủ, cúng giỗ, tiệc tùng quan trọng phải về, có khi còn để tang gia chủ qui tiên. Có lúc là thằng Bảy con ông trai cày về tiếp quản. Ở thành phố lâu lâu lão về thăm nom, nhắc nhở bọn này và thu hoạch cây trái trong vườn. Bọn người làm chỉ được ở nhà dưới. Như xưa. Đó là phận hiển nhiên của kẻ ăn người làm. Cửa lên nhà chính luôn đóng kín. Ngôi nhà không có hơi người dần ẩm mốc, mối mọt bắt đầu xông những thớ gỗ nhẹ. Bọn phá hoại. Lão rủa inh lên mỗi độ về. Nhưng là rủa chung chung thôi. Bọn phá hoại có ba thằng con trai lão. Đứa này nục xin tấm phản gõ dày cả gang tay về xẻ làm sa lông thẻ, đứa xin cái tràng kỷ chạm khắc xà cừ về kê nằm mát, đứa cái mâm đồng, đứa chở chum vại, hũ, tỉn có tuổi hơn trăm năm… Rồi cũng chẳng còn ở nhà chúng nó. Hoặc bán cho đám đồ cổ hoặc vứt đi thay đồ hiện đại. Tan hoang này có lỗi của lão: chính lão cũng không thấy hết giá trị ngôi nhà của cha mẹ và đã dễ dãi vứt bỏ. Ba đứa con trai không đứa nào thèm nhận nhà từ đường và lão cũng hùa về phố ở với chúng. Cho tới cái ngày có kẻ nói lão sắp chết. Cho tới khi gã thầy thuốc người Miên nhắc tới hai tiếng ngưu hoàng. Lạ thật, hình như cũng gã thầy Miên này cách đây cả bốn năm chục năm tới nhìn tướng con bò trong dãy chuồng bò cha lão, điểm mặt một con nói ngưu hoàng gì gì đó. Hồi đó lão mới ngoài hai mươi. Gã thầy Miên hồi đó giờ vẫn vậy, không một chút đổi khác. Cha lão ậm ừ. Ông không quan tâm lắm vì đang mải miết truy tìm cuốn sách có tên là Vạn Pháp Qui Tôn gia bảo của ông nội ông. Nghe đâu cuốn sách pháp thuật này đem lại sự giàu có thịnh vượng của gia tộc. Ngôi nhà cổ. Khu vườn rậm rạp. Ngưu hoàng. Và có thể là Vạn Pháp Qui Tôn nữa. Lão quyết định về. Tự cứu mình. Cứu ngôi nhà tổ tiên.

Năm đó gã mới ngoài hai mươi và mới lấy vợ. Ông mai phải chật vật lắm mới dàn xếp được cho mọi thứ đầu xuôi đuôi lọt: nhà nữ nghe người ta đồn đại đàn ông nhà lão thường ra vườn ăn nằm với ma! Vợ lão là con nhà dòng dõi quan quyền thời cuối mùa, gia thế lão đừng sựng hàng trăm mẫu ruộng cũng gọi là môn đăng hộ đối. Vợ lão đẹp, sắc sảo, được nuôi dạy tử tế về tam tòng tứ đức. Nhưng một lần cô ta nổi loạn. Cha lão có ba vợ, ông thường xuyên bênh vực bà tư trẻ đẹp và ức hiếp mẹ lão. Bữa ăn đó ông quát mắng bà hai nặng lời vì một lý do ấm ức không đâu. Mâm ăn nặng nề. Cha lão tiếp tục lải nhải những điều ngu xuẩn. Cộp. Cha mà còn ăn hiếp má nữa thì chén cơm này vào mặt dì đấy! Cả nhà sửng sốt: vợ lão, cô con dâu lâu nay hiếu thuận, ngoan ngoãn lành hiền đang dộng chén cơm xuống đất cảnh cáo cha chồng và bằng cái giọng cực kỳ láo xược. Cha lão há hốc mồm kinh ngạc rồi đứng bật dậy, ông vớ ngay cây chổi sau lưng. Vợ lão chạy vội lên nhà trên, tay nắm chéo khăn trải bàn thờ, cha mà đánh con, con lật luôn cái bàn thờ này! Nhà mình tới hồi không cần bàn thờ mạt chủ nữa rồi!!! Cha lão giận run, tím mặt. Ông lần chần một chút rồi vứt cây chổi, lẩy bẩy đi qua mọi người đang sợ hãi nép dọc lối lên. Ông bỏ bữa ăn, ra vườn. Mâm cơm cũng giải tán, không ai còn tha thiết động đũa. Vợ lão sau đó có gặp xin lỗi cha, ông không nói gì nhưng những tháng năm còn lại ông hết ăn hiếp mẹ lão. Ông cứ ngơ ngác tìm kiếm trong nhà, quanh vườn… Cuốn sách, có lúc ông lẩm bẩm…

Khu vườn được ngăn đôi bởi mương nước xuyên rào tre chảy qua. Nó ngoằn ngoèo theo một hình thể có chủ ý, hồi lão còn nhỏ có nghe cha nói ông cố lão khơi long mạch. Hình loằng ngoằng là thế ếm giữ không cho âm giới tràn sang nửa trước, nơi gia đình ngụ cư. Cha dặn lão ban đêm không được qua cầu tre sang bên kia. Bên kia là những cây xoài, vú sữa lâu đời rợp bóng. Ngoài rào tre phía ấy là ngọn đồi thấp trước đây có một ngôi cổ tháp. Giờ đã sụp đổ hoàn toàn, chỉ còn vết tích gạch vỡ, những mảnh đá trang trí sứt sẹo hình thù không ra người không ra thú, sau này nhiều người tới đào bới thu nhặt rồi mang đi đâu chẳng rõ. Rất nhiều chuyện rùng rợn từ khu vườn bên kia mương. Mỗi người thấy một phách nhưng mẹ và các dì lão đều rất thống nhất chi tiết những con ma nữ khóc văng vẳng; tiếng rì rầm vòng vọng; giọng ru con hời hời… Con chó mực xích sau nhà đêm đêm sủa vọng vào bóng tối bí ẩn. Một lần chạng vạng lão còn ngồi câu ráng nơi ao nước- đoạn mương được đào sâu để lấy nước tưới cho vườn rau phía trước- cá thác lác ăn nhiều vào giấc này, lão giật được nhiều cá mê quên vô nhà, không hiểu sao mẹ và hai dì bận việc cũng quên gọi tìm như mọi hôm. Lỗ tre phía đầu mương nước bỗng trồi lên nửa thân hình người phụ nữ trẻ áo bà ba trắng tóc dài êm không tiếng động, phần tóc còn khuất sâu dưới nước. Con ma tóc dài dùng tóc đan thành võng ru con nghe người lớn kể giờ đang hiện lên trước mắt. Lão hét lên hãi hùng rồi ngất ở bờ ao. Cha cấm tiệt mọi người, cả mấy anh trai cày, ban đêm không được vượt qua mương nước. Ban ngày, trừ lúc thu hoạch cây trái, lâu lâu dọn cỏ, hoặc vài việc cần thiết, không ai sang bên ấy. Đó là một thế giới u huyền từ buổi khai lập. Sau này lớn lên, lão nghe người ngoài bảo ông cố rồi ông nội lão dùng pháp thuật thu phục được nhiều những bầy gà vàng dẫn con đi ăn đêm đêm quanh khu đồi, những đàn gà này bơi theo mương nước vào vườn rồi bị hoá. Hoặc rào tre dày bịt phía sau tự dịch chuyển mở thành lối dẫn dụ vào rồi khép lại như cũ. Chuyện này thực hư ra sao chẳng rõ nhưng con trai lão từng cày cục xin mấy cái ché nhỏ có viền trang trí rất tinh tế, bọn đồ cổ bảo gốm Gò Sành cách đây tới hơn năm trăm năm. Nghe nói những chiếc hũ sành chứa báu vật được chôn giấu kỹ dưới đất sâu có thể nhìn thấy nó toả sáng ban đêm nếu luyện được phép nhật quang ám thị…

Không quan quyền, ông cha lão vẫn có tiền mua hàng trăm mẫu ruộng. Chuyện này được giải thích từ cuốn sách. Người ta bảo cao tay ấn, cuốn sách có thể di sơn đảo hải, sái đậu thành binh… Hồi bọn Phú Lãng Sa qua đánh chiếm đất nước ta, chúng săn lùng tìm bắt người sở hữu Vạn Pháp Qui Tôn vì sợ phép gọi quân đánh giặc của nó, ông cố và ông nội lão đã cất giấu đâu đó trong khu vườn mênh mông kỳ bí.

Khu vườn, năm lão mười bảy tuổi, đã chứng kiến lão thành đàn ông, một cuộc lớn lên kỳ lạ. Trước đó lão đã hết sợ những tán cây rậm rạp, hết sợ người nữ tóc dái áo trắng, và như tiền định, những người đàn ông cứ thay nhau đi về phía khu vườn. Lão nằm trên chõng tre dưới tán cây vú sữa rợp mát, thiu thiu ngủ. Trưa nồng. Thường thì cha lão nằm đây. Hôm nay ông lo chuyện nhóm họ nhà dì tư. Lão ở trần quần đùi, giăng cái sức lực mới lớn của mình ra trên chõng tre, thiu thiu ngủ. Một làn hương lạ trầm xuống quanh lão, lạ lắm, không phải bất kỳ loại hương hoa nào, nó vừa rộng rãi bừng thức của đồng cỏ sáng xuân vừa kín đáo thanh u của vườn đêm thấp thoáng trăng, nó đâu đó hàng ngày thoảng chợt không thể nắm bắt nhưng chắc chắn hiện hữu và từng tế bào căng tràn thính nhạy mười bảy rộn rực sinh sôi của lão cứ rụt rè ngây ngất đón chờ. Lão định mở mắt nhưng không thể. Chỉ có thể nhận ra như màn trập trùng sợi đêm miên man như tóc vô định chỉ có thể nhận ra cái nhộn nhạo lạ lẫm của hơi thở của thịt da của tê rần ngân vang không dứt niềm sướng khoái chưa từng biết của chơi vơi choáng ngợp rơi của co giật vỡ oà tuyệt vọng và tột đỉnh. Lão giật mình tỉnh dậy rã rời nỗi sướng vui bẽn lẽn quay nhìn quanh quất. Khu vườn tuyệt đối yên tĩnh. Rất đáng ngạc nhiên là lão đang nằm sấp chứ không phải tư thế ban đầu. Lão ngồi dậy nghếch mũi, chỉ có mùi lá khô và nấm mốc quanh vườn. Một dệ nước deo dẻo nhèm nhẹp giữa hai đùi. Lão ngó quanh rồi vạch quần, vật truyền giống ran rát rơm rớm máu và lần đầu tiên hiển lộ hoàn hảo, ướt mướt hãnh diện. Lão đã ra vườn sau đó, nhiều lần, ngày và đêm…

Ngày đầu tiên về lại ngôi nhà, lão cũng ra vườn. Chiếc chõng tre đã nát từ lâu nhưng mấy chục cây xoài , vú sữa lâu niên vẫn còn đó, già cỗi và ít trái; đã có nhiều cành khô, nhiều mảng gãy đổ vì những cơn bão lớn; rào tre còi cọc, thưa thớt; cỏ dại ngui ngút hoang tàn. Tấm cửa gỗ nặng nề kẹt mở, trong ngôi nhà chính tất cả mọi vật phủ dày lớp bụi như đã ngàn năm với rào rào khúc hoan ca mối mọt… Ngưu hoàng. Chỉ có ngưu hoàng!…

Tả thanh long hữu bạch hổ, dãy chuồng bò từ góc trước gần cổng dọc rào ra đến quá nhà, dài hơn ba chục mét, luôn có ba bốn chục con. Ngăn cách phần sân rộng , đầu hồi chái tây ngôi nhà với chuồng bò là hàng đống rơm to, nguồn thức ăn chính cho đám bò; nước đường là thức bồi dưỡng cho chúng mùa cày. Gã thầy Miên theo người ở chận bò từ đồng về, đứng ngẩn người quan sát thêm một lát rồi chỉ con Cộ, ngưu hoàng, ông ta lẩm bẩm. Chỉ có mình nó bồn chồn không yên trong chuồng chứ không vội vục mõm uống nước, hoặc ăn thêm món rạ cũ nồng mềm thơm. Buổi sáng ra đồng không bao giờ nó vội vã gặm cỏ như những con khác mà chỉ chăm chắm ngó mặt trời. Ngó không chớp mắt. Tới khi nắng gắt hẳn mới nhảy lồng lên sung sướng mạnh mẽ sán đến ăn gần lũ bò cái. U to, cổ dày, yếm dài, ngực nở, bụng thon- nó sung mãn vô địch không có bất cứ đối thủ nào. Nhà vô địch ngó mặt trời nếu mắc ách vào giờ này cũng nhất quyết không chịu cày, khi ánh dương bừng thức, nó dừng sững lại. Hoặc nó chỉ để truyền giống hoặc cày chiều hoặc sáng sớm trước khi mặt trời mọc hoặc… thiến dái. Bị hoạn nó sẽ mất ngưu hoàng. Nhiều khi người ta không biết, không cần ngưu hoàng, cái túi nhỏ như túi mật thứ hai, trong veo- cái túi ngọc! Nhiều khi người ta chỉ biết rằng cái túi nhỏ trong veo này cô lại thì đen hin, xát tay vào thì vàng như nghệ và nếm thấy vị đắng hơn mật gấu, véo một chút chưng với trước lịch cho người đang hồn lìa dần khỏi xác cũng sững lại sống thêm đợi con đợi cháu. Như sâm. Người ta chỉ biết năng lực tích hợp cao nhất sự sống ở ngưu hoàng. Gã thầy Miên chỉ nói ngần ấy. Chỉ biết ngần ấy. Còn lão thì biết gì hơn?

Lão sắp chết. Ngôi nhà và khu vườn đang tàn lụi. Không nhớ được kẻ nào đã nói lão sắp chết, đám con phá gia chi tử, gã thầy Miên, tay bác sĩ thăm bịnh hay chính cơ thể lão bật ra câu nói đáng sợ đó nhưng có vẻ như vậy thật khi ngôi nhà mối xông và khu vườn đang tàn lụi. Vạn Pháp Qui Tôn thì xa xôi mơ hồ quá. Chỉ có ngưu hoàng. Bỗng dưng lão tin vào năng lực thần kỳ của ngưu hoàng. Ngưu hoàng cứu rỗi. Và mọi thứ sẽ rạng rỡ, huy hoàng như xưa. Cả cái cơ thể đang rệu rão của lão.

Lão gọi thằng Sáu, thằng Bảy tới, rộng rãi cho nó hưởng những công xá cao từ hoa lợi hoặc nguồn tiền riêng lão dành dụm được từ mấy món cổ vật bán trước đây, phân việc cụ thể tôn tạo khu vườn, ngôi nhà. Phần nhà chủ yếu là giặm giá lại những chỗ dột nát, quét dọn bụi bặm, lau rửa hàng chum vại lớn… gọi thêm vợ con bay vô làm… phải tấp nập, đông đúc người… phải làm lại , phải trở về với những gì đã từng có… tản ra, túa đi đến bất cứ lò bò nào gã buôn bò nào, đấy, những đặc điểm ta đã mô tả đó… ta sẽ trả tiền gấp hai gấp ba… nhanh tay lên, nào, các ngươi chỉ cần giúp ta tìm lại được những gì đã có, các ngươi sẽ được sống sung sướng, con cháu các ngươi sung sướng đời đời kiếp kiếp…

– Ông thuê việc thì con làm thôi. Ông cha con cũng làm thuê làm mướn kiếm sống. Đời chúng con giờ cũng vậy. Trước gọi là đầy tớ giờ làm thuê cũng chỉ khác nhau cách gọi. Nhưng ông ơi… ông nghĩ kỹ đi chớ, thời đại này, ngay chúng con cũng xây được nhà mới… ông giữ mãi khu vườn âm u, ngôi nhà cũ kỹ để làm gì?

– Chúng con cần tiền, cần việc làm để sống. Chớ còn sung sướng… đời đời… ông nói sao giống cha xứ giảng đạo về thế giới… của Chúa…

– Ông ơi, những người dân nghèo khổ chúng con không thể không hy vọng một ngày nào đó sẽ có cuộc sống sung sướng hơn, thôi thì đời mình đã đành, hy vọng là trông chờ vào đời con, cháu. Nhưng… thiên hạ làm ăn rầm rầm… mình chỉ dựa vào khu vườn, ngôi nhà dù có tốt nhất một thời… con nghĩ…

– Hay là, ông… sao ông không gọi mấy cậu về? Từ ngôi nhà này đi ra… có vẻ như mấy cậu thừa hưởng những thuận lợi cho riêng mình… Ông hiểu cho là chúng con không dám tị nạnh gì đâu… phận chúng con nó vậy… Hay là, hay là. Ở đâu ra lắm góp ý thế không biết. Ta có còn là chủ ngôi nhà này không, hừm, chúng mày thì biết gì, ngày nào ta tìm được ngưu hoàng chúng mày sẽ thấy. Đừng hòng những ngôi nhà khang trang, những hàng rào bằng trụ bê tông lưới bê bốn mươi chung quanh làm lung lay ý chí của ta. Bởi vì, lão sắp chết, và chẳng lẽ gã thầy Miên vô cớ nhắc tới ngưu hoàng?

Rất nhiều lần, ngày cũng như đêm, dù tìm thấy những thỏa mãn ở khu vườn sum xuê cảm giác, nhưng đến khi cưới vợ, lão mới thực hiểu thì ra đó là mùi nữ giới, mùi âm. Cho tới giờ. Cái mùi ấy vẫn lẩn quất đâu đó. Chung quanh, đã hơn mười năm vợ lão qua đời. Vợ lão một tay chèo chống nhà chồng mấy chục năm, thị còn hẳn ngôi nhà đã không thế này, thị còn cũng không đến nỗi lão lơ ngơ đi theo đám con phá gia chi tử. Nhưng cái mùi. Ở nhà đứa con trai nào lão cũng thấy. Từ những cô con dâu. Tràn đầy sinh khí. Từ phòng trong sau ô cửa hững hờ tấm ri đô. Lão cầm tờ báo còn phòng trước là mấy cô hớt tóc thanh nữ. Đứng bên này chồm qua bên kia ngoáy tai khách. Khuôn ngực nở nang chạm mặt đám đàn ông. Cái mùi. Chắc chắn thế. Trên tờ báo bị đóng đinh.

Nên, cái mùi nhanh chóng được nhận dạng khi con gái thằng Sáu lui cui quét dọn nhà cửa và nấu nướng bữa ăn cho lão. Lão đang ở ngôi nhà ông cha, ngôi nhà của lão. Và đứa con gái. Mặt mũi xấu xí nhưng thân hình căng rưng rức. Lão ngớp thở. Nó biết. Nó dạn dĩ và thân thiện mơn man, cái mùi. Bọn đồ cổ tới trả giá mớ chén bát cổ còn rất nhiều. Nó há mồm trợn mắt ngó cái giá. Lão chỉ bán một ít để chi dùng. Cán bộ bảo tàng tới đặt vấn đề mua ngôi nhà mang về thành phố dựng mảng bảo tàng ngoài trời về kiến trúc cổ. Điều này thì như chửi vào mặt lão. Ngôi nhà sẽ thành một vật của quá khứ, của bảo tàng ư? Đừng hòng! Trong râm ran tiếng mối mọt, lão vẫn đang sống đây. Với ngưu hoàng, một ngày nào đó. Và hàng ngày, càng lúc càng gần gũi cô gái nhìn lâu thấy mặt mũi cũng đẹp. Như là cái đẹp riêng cho lão. Hy vọng của lão.

Lão ra vườn, trên cái chõng tre mới. Nó nhiều lúc theo ra. Lão hồi hộp chờ điều kỳ diệu xảy ra trên cái chõng của lão…

Khu vườn mới dọn dẹp lại, đã hết vẻ hoang tàn nhưng chỉ còn ý nghĩa thời gian trên các gốc cây cổ thụ. Đã có nhiều vệt nắng. Rào tre rách từng mảng, thấy loáng thoáng ngoài kia, trên đồi đám trẻ chăn bò ríu rít, những ngôi nhà sáng đẹp, những chiếc xe máy chạy xa xa trên đường… Có lúc xe chạy thẳng vô sân nhà: đám con cháu xẹt về thăm. Nó cười thầm những cố gắng của lão. Lão hiểu nó thăm chừng mình chết chưa. Rồi sẽ tri hô lên vẻ hớt hải đau đớn giả tạo. Đừng hòng! Gã thầy Miên thể nào cũng trở lại với con bò Cộ oai phong lẫm liệt thuở nào.

Lão không còn khái niệm thời gian, chỉ sự tồn tại là có thật. Sự tồn tại cũng có lúc nhập nhằng giữa thực và ảo- điều không lạ: trong ngôi nhà và khu vườn này từ lâu vốn đã vậy. Chẳng hạn bây giờ cũng người ra kẻ vào hàng ngày nhưng hàng chum vại vẫn trống rỗng, không dãy dãy chuồng bò chuồng heo, kho lẫm mối xông. Không có kìn kìn sản vật của vô vàn ruộng đất chung quanh đổ về: ngôi nhà từ lâu đã tự rút ruột nuôi sống mình!

Những thực thể làm nên gia thế đã bị huỷ hoại hoặc cướp phá đến kiệt cùng. Kho cổ vật chỉ còn một dúm, lắt lay. Lão không nhớ đã đưa cho cô gái bao nhiêu món, tự thâm tâm lão nghĩ cô là chỗ dựa duy nhất của lão, của ngôi nhà. Cô suốt ngày không mở miệng nhưng rất hiểu lão từ những ý muốn đơn giản đến ý nghĩ tranh tối tranh sáng trong toàn thể những hiện diện không hẳn là quá khứ cũng chưa phải hiện tại. Cô là sợi dây nối lão với thế giới.

Cái long mạch. Trước đây thuỷ lợi địa phương nắn dòng nước bên kia ngọn đồi chảy thẳng, thằng Bảy đã cho lấp rác trồng chuối ngoằn ngoèo theo thế yếm của cụ cố, lần đó về thăm lão khen nó sáng ý. Lão vùng dậy. Phải khơi lại cái long mạch. Cô gái đã gọi về nhiều nhân công. Bà ngày sau, một dòng nước nhỏ rịn ra ngân ngấn. Nơi cái ao lão ngồi câu cũng được vét sâu hết lớp bùn xưa. Nghe cộp một tiếng. Mạch phù như suối phun. Người đào thò tay vớt cái ché sành vỡ nát trôi ra cuồn cuộn vụn giấy mục. Lão tái mặt lẩm bẩm Vạn Pháp Qui Tôn… Không thấy cô gái đâu.

Tiếng mối mọt trong nhà quen thuộc nghe như reo vui, lão thấy khó chịu. Đêm đó lão nằm ngủ trên cái chõng tre của lão ngoài vườn. Xâu chìa khoá trong người cồm cộm, lão lấy ra bỏ dưới gối. Cô gái về thông báo đã tìm thấy ngưu hoàng. Không mở mắt ra nhưng lão biết. Cái mùi định danh. Cô không hề mở miệng nhưng lão hiểu cô như đã từ lâu liên lạc giữa cô và lão vốn vô thanh. Lão thấy gã thầy thuốc người Miên đang dắt con bò Cộ lộng lẫy trên đồng, con bò u to, cổ rộng, yếm dài, ngực nở, bụng thon chăm chắm nhìn mặt trời cho tới khi nắng gắt mới lồng lên sán đến đám bò cái, trong chuồng bao giờ cũng nhấp nhỏm không yên, dưới túi mật là một túi nước thứ hai trong vắt, cô lại thì đen hin, véo trên tay thì vàng như nghệ, nếm đắng hơn mật gấu, chưng với trước lịch cho người đang chết uống thì sống lại… Ngưu hoàng đang về. Trên thân thể lão. Mọi thứ bừng thức tràn đầy sinh khí, mơn man. Lão cứ nhắm nghiền mắt, tan ra trong tận hưởng những cảm giác tuyệt diệu ngày xưa huy hoàng và mùi âm thân thuộc. Ngưu hoàng. Ngưu hoàng đã về.

Chắc là lão vừa lẩm bẩm vừa mỉm cười, nụ cười cứng đờ còn nguyên khi nhà chức trách đến khám xét hiện trường. Ngôi nhà sắp đổ sụp phủ đầy bụi bặm đang là vương quốc của mối. Xâu chìa khoá sợi dây vải mục nát xổ tung toé trên nền đất. Họ quá ngạc nhiên nghe người dân trong vùng khai rằng lão đã chết từ lâu, con cái lão đi đâu biệt xứ và ngôi nhà khu vườn bỏ hoang cả chục năm qua.

Suối Trầu, tiết Thanh Minh, Bính Tuất.

 

 

 

SÁCH CHÁY

 

1.Đúng ngày… tháng… năm 33 sau công nguyên, trên Thập gía, Giê-xu Ki-tô nói câu cuối cùng trước khi trút hơi thở cuối cùng để ba ngày sau sống lại về trời sau cuộc hoá thân thành người phàm trần để cứu rỗi con người, câu đó là: “Ê-li, Ê-li, lê-ma xa-bác-tha-ni”, nghĩa là “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Chính vì câu cuối cùng này của Ngài mà tôi mới đặt tên cho câu chuyện của tôi như thế, câu chuyện từ một cuốn sách bị cháy.

Quả nhiên dù là bậc thánh dù là Thiên Chúa giáng trần, khi đội lốt con người, ngài vẫn là con người thứ thiệt, bởi vì nếu không là con người thứ thiệt thì những lời rao giảng của ngài ai tin? Và tôi vẫn đau cái đau của ngài khi bị đám người của Thượng tế đánh đập, tôi vẫn đau cái đau của ngài khi bị đóng đinh trên cây thập giá, tôi khát như ngài khát và được thoả cơn khát khi đám lính Thượng tế nhúng giấm vào miếng bọt biển xìa vào miệng. Tôi là con chiên của ngài và tôi tin ngài là Chúa cứu thế. Dù Phê-rô ba lần chối ngài khi đã chứng kiến bao lần ngài làm phép lạ lúc sinh thời, dù sau khi ngài về trời, ít nhất ngài đã hiện ra ba lần cho các môn đồ nhìn thấy. Dù tôi không hề là Giu-đa, môn đồ bán ngài với ba mươi đồng bạc rồi sau đó ân hận ném trả ba mươi đồng bạc rồi thắt cổ tự tử (Kinh Thánh chép vậy chẳng biết có đúng không!) Xin lỗi nếu tôi là Giu-đa tôi không làm như thế! Chỉ thưa ngài, hỡi Đấng cứu thế, vì sao đức độ ngài thế mà những môn đồ ngài người thì chối bỏ, người thì bán ngài với ba mươi đồng bạc, số còn lại bỏ chạy mất dép khi đám quân của Thượng tế tới? Chẳng lẽ lỗi hoàn toàn thuộc về họ? Họ hành xử như thế để hợp với lời tiên tri ư? Nhưng lời tiên tri từ đâu mà ra? Nếu từ những người dân thời ấy thì có ý nghĩa gì: cuộc sống quá khổ sở khiến họ cứ nói phứa lên về một ngày mai tươi sáng. Còn nếu từ Đấng tối thượng thì hai năm rõ mười rồi còn gì mà thử thách thế gian? Tôi là con chiên trung thành của ngài vì tôi còn trông chờ vào một ngày mai bất tử ngài đã rao giảng, ngày mai bất tử ở thiên đàng. Hãy tin, tôi không chối bỏ ngài như Phê-rô. Nhưng xin lỗi, mấy ai nhớ đủ mười hai tông đồ của ngài, nhưng kẻ bán ngài với ba mươi đồng bạc, Giu-đa, mấy ngàn năm sau mọi người đều nhớ. Nhớ để muôn đời nguyền rủa, lên án. Lạy Chúa, xin Người tha lỗi, Giu-đa mới là người con kính trọng. Giu-đa, kẻ bán Chúa! Nhưng đây là người chịu tiếng nhơ muôn đời trong tâm hồn hậu thế để cho Ngài hoàn thành sứ mạng của Thiên chúa, đúng không? Không có Giu-đa thì liệu những lời rao giảng của Ngài, những phép lạ của Ngài trong thời nhập nhoà bao nhiêu phép lạ liệu có ấn tượng gì? Phải có một người như Giu-đa. Luôn luôn như thế khi Thiên chúa tạo ra con người. Luôn luôn như thế. Để cuộc sống này tồn tại với bao phép lạ. Ngàn vạn năm qua cuộc sống tồn tại với bao phép lạ. Nhưng Ngài là người tử nạn cuối cùng. Chắc chắn thế. Vì, sẽ không ai tự nguyện tử nạn vì con người nữa trừ bị bắt buộc. Con người bây giờ vừa thừa đức tin vừa lưu manh hơn nhiều thời Ngài tử nạn. Thật đấy! Và trong logic này xin Chúa tha tội, kẻ tử nạn cuối cùng, thực sự danh giá không phải Ngài mà là Giu-đa. Đây mới là kẻ tử nạn cuối cùng cho cuộc sống đầy dẫy ganh ghét tị hiềm mà những lời dạy bảo của Ngài chừng như không có tác dụng; họ cứ tha hồ làm điều ác rồi cuối tuần tới thánh đường được dựng lên khắp nơi nói lời xưng tội là có thể hồn nhiên tới ngày chết sẽ được vào nước Chúa dù rằng Ngài từng cảnh báo người giàu vào nước Ngài khó như lạc đà vào lỗ trôn kim. Thì kẻ ác vào thiên đàng gỉa dụ cho tôi nói sẽ là con, con gì thật to qua lỗ thật nhỏ tôi không biết nên không thể nói rạch ròi như Ngài, sẽ không vào được? Nhưng về căn bản đây cũng chỉ là một cách nói. Cuộc sống nơi trần thế đã có quá nhiều điều ngược lại. Ô hô! Họ giả vờ tin Ngài đấy thôi. Họ quan tâm tới cuộc sống này là chính vì Ngài đã để cho họ quá nhiều khoảng trống tự do tung tác. Ngài đã để lại quá nhiều Thánh Đường để bảo vệ quyền lợi họ, bao che cho vô vàn cái xấu cái ác của họ, thưa Đấng Toàn năng!

2. Giu-đa cứ tưởng mình sẽ thất thiểu đi trong hoang mạc hồn người. Ông luôn mặc cảm về tội lỗi dù chắc rằng với sự bao dung nhân từ của Chúa, với hành vi ném trả ba mươi đồng bạc và thắt cổ tự tử, ông từ lâu đã được tha tội. “Ráp-bi, chào Thầy!” và hôn Ngài. Lời chào, cái hôn chỉ điểm. Giu-đa nhớ lại khoảnh khắc bọn người của các Thượng tế sán đến tra tay bắt Thầy. Có thể có một kết cục khác không, rằng Chúa không bị ông bán, không bị nhục mạ, nhục hình, đau đớn thể xác? Cuộc “hoàn tất” bình thường sẽ ít thiêng chăng? Lạy Chúa Toàn năng, vì sao Người chọn con làm công việc bán Chúa? Dù không bị ném xuống Địa ngục với Sa-tăng với lửa và khói lưu huỳnh nhưng mấy lần con mon men lại gần thì sư huynh Phê-rô canh cửa mấy lần ngoảnh mặt đóng sập cửa lại. Ông ấy cũng ba lần chối Chúa mà được canh cửa Thiên đàng, vì sao có sự sủng ái này? Đành phải chờ đến ngày luận công bình tội cuối cùng- ngày Phán Xét đang đến gần.

Giu-đa cứ lang thang, lang thang cả mấy ngàn năm qua. Thỉnh thoảng ông xán đến gần con người. Con người của các thời cứ luôn miệng nhắc chuyện ông bán Chúa nhưng không có vẻ hằn học lên án. Chỉ khi họ vận dụng cho ai đó trong đời sống “Mày là thứ Giu-đa bán Chúa!” Ông không khỏi bị tổn thương dù lời nguyền rủa kia nhằm vào đối tượng khác vào một thói xấu cũng thường trực trong loài người và giá trị phản bội nhiều khi không phải là ba mươi đồng bạc, ba mươi đồng bạc từng đủ mua “Thửa Ruộng Ông Thợ Gốm” dùng làm nơi chôn cất người ngoại kiều, thửa ruộng còn nguyên tên “Ruộng Máu” đến giờ. Con người không hằn học lên án ông vì hẳn họ tin rằng dù có bị Quỷ Sa-tăng cám dỗ đi nữa thì việc ông làm cũng đã có trong liệu định của Đấng Toàn năng. Nhưng sư huynh Phê-rô thì không, dù cũng ba lần chối Chúa. Và được sủng ái. Được trao quyền canh cổng. Chỉ vì sư huynh lanh miệng hơn, sau câu hỏi của Ngài, “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”, sư huynh đã thưa ngay “Thầy là Đấng Ki-tô, con Thiên Chúa hằng sống”. Vậy là mọi thứ đã được định đoạt. Câu trả lời đã bộc lộ sự trung tín tuyệt đối. Trung tín. Thực ra với đức tính mẫn cán trong việc giữ cổng, sư huynh cũng chẳng bao giờ nhìn thấy được Giê-ru-sa-lem mới trên nước Chúa “tường xây bằng ngọc thạch, thành thì bằng vàng y, giống như thuỷ tinh trong suốt, nền móng tường thành được trang trí bằng mọi thứ đá quý. Nền móng thứ nhất bằng ngọc thạch, nền móng thứ hai bằng lam ngọc, nền móng thứ ba bằng lục ngọc, nền móng thứ tư bằng bích ngọc, nền móng thứ năm bằng mã não, nền móng thứ sáu bằng xích não, nền móng thứ bảy bằng kim châu, nền móng thứ tám bằng lục châu, nền móng thứ chín bằng hoàng ngọc, nền móng thứ mười bằng kim lục, nền móng thứ mười một bằng huỳnh ngọc, nền móng thứ mười hai bằng tử ngọc…” Những điều này tất nhiên Giu-đa chỉ nghe được qua lời bàn tán sùng mộ từ con chiên mọi thời hướng về nước Chúa chớ làm sao có cơ hội thấy tận mắt. Ông đành chờ vào ngày Phán Xét.

3.Sau gần hai ngàn năm, người đàn ông này vẫn nguyên tuổi ngoài ba mươi. Ông chỉ đầy vẻ mệt mỏi. Cũng không dễ dàng gì, ngàn năm lang thang với mặc cảm tội lỗi, ngàn năm đợi chờ. Có thể chỉ tình cờ trong một lần lại gần con người ông nghe tôi phát biểu với bạn bè lời bênh vực ông nên ông chọn tôi là con người đầu tiên để tâm sự. Những chuyện tôi kể trên từ cuộc gặp gỡ này. Ông nói có vẻ khó nhọc: vết dây thừng siết trên cổ vẫn còn hằn bầm tím: Kinh Thánh đã đúng!

Đó là một buổi chiều trên ngọn đồi nhỏ sau thánh đường thành phố. Tôi không buồn không vui không chờ đợi ai không một chút tâm trạng, nói chung, một sự trống rỗng. Và cũng chẳng hiểu vì sao tôi lên đồi. Ngồi một mình. Ngó chiều lững thững xuống dần. Từng bước. Và khi chiều đã vào tận vùng rậm rạp xa xa của dãy núi đối diện hay đã chìm vào bếp lửa nhà ai dưới kia tôi không nhớ chắc lắm, người đàn ông ấy từ đâu lững thững đi về phía tôi. Một chút ngạc nhiên, ông ngoại quốc này làm gì ở đây? Mà ăn mặc kiểu y phục nhiều tấm lùng nhùng cổ đại. Thành phố tôi gần đây phát triển du lịch, thường xuyên có khách ngoại quốc nhưng ở đây có gì đáng ngắm đâu. Vả lại cũng chiều tối rồi. Ông chủ động chào tôi bằng tiếng Việt, đúng âm giọng địa phương tôi:

– Chào bạn! Tôi là Giu-đa.

– Vâng…, tôi lúng túng, xin thứ lỗi… hình như tôi chưa gặp anh…

– Đúng là bạn chưa gặp tôi nhưng có biết tôi. Tôi là Giu-đa trong Kinh Thánh. Giu-đa bán Chúa! Tôi ngắm người nghe người rồi rợn tóc gáy: người nổi tiếng của nghìn năm trước đang trước mặt, dĩ nhiên không phải trong hộ khẩu quản lý của xã hội bây giờ. Nhưng nhìn kỹ thấy ông không hề có nét lưu manh, láu cá như những người chung quanh tôi đang tiếp xúc nên nỗi sợ của tôi vơi dần. Tôi đã bớt sợ nhưng còn cứng lưỡi. Dẫu sao, cuộc gặp gỡ này quá bất ngờ. Ông chủ động:

– Có lần tôi nghe bạn bào chữa cho tôi. Đó là lý do tôi tìm đến gặp để cám ơn bạn, và tò mò muốn biết vì sao bạn nghĩ …không xấu về tôi như mọi người. Tôi từng tin những chuyện huyền nhiệm trong đời, giờ mới tận mắt chứng kiến. Và hoàn hồn:

– Tôi đọc lịch sử và biết trên bàn cờ nhân loại có quá nhiều con tốt thí, hoặc để cứu chủ hoặc để tôn vinh chủ hoặc chỉ vì một sự lơ đễnh nào đó của chủ… và tôi thông cảm cho ngài. Ngài chịu tiếng xấu như thế là không công bằng! Giu-đa thở ra nhè nhẹ. Nét ưu tư của ông dường như đã giảm đi chút ít. Ông hiểu dù cách nhau cả ngàn năm, con người vẫn vậy. Chớ không riêng gì chuyện ông. Ông nói sau một biểu hiện gục gặc đầu như nghĩ ngợi như đồng tình:

– Tí nữa tôi sẽ kể cho bạn nghe mọi thứ. Giờ thì… tôi đã yên lòng, dù xuống Địa ngục hay lên Thiên đường đều được cả, tôi đều chấp nhận cả!

4. Ngay khi Giu-đa chào tôi rồi tan biến trong nhập nhoạng chiều, gió cứ thổi thốc vào lưng mà trên đồi những ngọn cỏ vẫn im lìm. Tôi định đứng lên về nhà nhưng không thể. Ngọn đồi lúc tối sầm lúc sáng rực lên một cách kỳ ảo. Trong tối sáng bất định đó, lại một người có vẻ ngoài cũng lành hiền như Giu-đa đến cạnh tôi nói độc một câu: “Ta là Sa-tăng, quỷ Sa-tăng cai quản Địa ngục. Giu-đa thật ảo tưởng, anh ta không có chỗ trong vương quốc của ta đâu!” Lại sáng loà trước mắt tôi. Thiên chúa mang hình hài Đức Giê-xu Ki-tô cũng chỉ nói một câu: “Ngươi đừng nghe lời cám dỗ của quỷ sứ!”

5.May vợ tôi gỡ được cuốn sách đang cháy rừng rực trên tay tôi lúc tôi ngủ quên. Thì ra chập chờn tối sáng trên đồi là từ ngọn lửa của cuốn sách bị cháy. Không biết vì sao nó cháy. Cuốn sách là một trước tác của Nhân Vật Vĩ Đại. Luôn có những bậc khả kính này trong lịch sử loài người. Có thể do tôi hút thuốc rồi ngủ quên chăng? Bây giờ thì nội dung cuốn sách tôi không nhớ.

Cuốn sách cuối cùng đã cháy, dù không chắc lý do nào, nhưng nó đã cháy. Và do vậy, tôi đã được cứu thoát. Khỏi cuộc tử nạn cuối cùng.

Suối Trầu, 31- 8- 2006

 

 

THÁNG CHẠP CÓ NGÀY BA MỐT

 

Biết là vô vọng, tôi không thể không chờ. Đêm ba mươi không thể là đêm cuối của tháng chạp. Tôi sẵn sàng tin rằng tháng chạp có thêm một ngày đêm nữa. Một ngày đêm để rồi cuối cùng nàng sẽ tới, nàng của đời tôi đã từng yêu, dù là thiên thần hay ác quỷ. Tôi đã hằng tin. Niềm tin là cuộc sống của tôi.

Người khác sẽ nhận xét về nhan sắc nàng theo cách của họ. Nhưng với tôi, nàng là người phụ nữ đẹp nhất trần gian. Bởi vì, như cách nói ví von của ai đó, trong khô khát mùa hạ tôi, nàng là cơn mưa rào, cơn mưa rào kịp lúc mát trong, cơn mưa rào ám ảnh, định mệnh. Đó là lúc tôi kiệt sức vì đói lả, nằm chờ chết bên bờ sông, con sông lớn nhất tôi từng biết đã không còn một giọt nước. Vì đâu con sông này lúc ấy hết nước tôi không biết, nó dốc sạch ra biển rồi chăng? Nhưng biển ở đâu? Sau này tôi không gặp lại con sông ấy nữa. Con sông đã chết vĩnh viễn. Nhưng biển thì còn. Nàng đã chỉ cho tôi thấy nhưng không cho tôi chạm tay vào. Chắc là nếu tôi làm vậy biển sẽ vỡ vụn chăng?

Nhưng trước đó thì có một sự kiện kinh hoàng xảy ra cả tôi và nàng một thời gian dài sau này không thể lý giải được, đó là một bọn người tới phóng hoả thiêu rụi cánh đồng, làng mạc đang tồn tại vừa yên bình vừa tẻ nhạt của tôi. Họ có một ngàn lý do, một ngàn nhân danh để làm điều ấy, trước và sau việc làm này của họ, lịch sử cũng đã từng hoặc rồi sẽ có một ngàn lý do, một ngàn nhân danh cho mọi hành vi huỷ diệt. Cánh đồng đã bị thiêu rụi. Ba tôi sửng sờ: dù đã ngàn lần kiên trì gieo trồng cùng với ngàn lần mơ ước hy vọng, chưa bao giờ ông đối diện với tình huống cánh đồng thực sự không còn nữa. Nhà cháy rồi sẽ làm lại. Mất mùa vì thời tiết vì sâu bọ vì những tính toán sai lầm rồi còn cơ hội cho mùa sau. Nhưng cánh đồng đã biến mất sau cuộc phóng hoả của bọn người nhiều nhân danh. Lần đầu tiên tôi thấy ba tôi mất phương hướng. Ngoài đức tính trung thực, ông luôn dạy chúng tôi về lòng kiên trì, ý chí. Tôi quan sát thử khi đối diện với tình huống này ông hành xử ra sao? Ông cứ há hốc mồm kinh ngạc nhiều ngày rồi dắt vợ con ra đi. Không có cánh đồng nào cho ông dừng chân. Tất cả đã bị thiêu rụi. Trên đường đúng một ngàn lần hỏi thăm khi tới vùng đất mới ông đều nghe câu trả lời rằng cánh đồng đã chết. Nơi đâu cũng có bọn người tham lam hung ác nhiều nhân danh này. Ba tôi là người của cánh đồng, ông, sau khi thể hiện đúng ý chí và lòng kiên trì vốn có qua một ngàn cánh đồng mất tích, kiệt sức rồi qua đời. Mẹ tôi cũng vậy. Xác họ lập tức bốc cháy và tan vào ngọn lửa đang ngùn ngụt dâng cao ba bề bốn bên. Tôi thì không. Trong danh sách của cánh đồng chưa kịp có tên tôi. Tôi không bị đốt. Cho tới giờ tôi cũng không biết sự thoát nạn này của mình là may hay rủi. Những kẻ phóng hoả mặt mày hung ác cũng thoáng chút ngạc nhiên rồi đi tìm những thứ chúng cần. Chúng phải cần một thứ nào đó cho công việc đang làm, chắc chắn thế. Chúng đi. Bỏ mặc tôi tồn tại với chính ý chí và lòng kiên trì mà ba tôi đã dạy, những yếu tố quyết định sự tồn tại nhưng tiếc rằng ông có tên trong danh sách, nhiều người thân khác của tôi cũng vậy, nhiều làng mạc khác cũng vậy. Sau này khi gặp những người cùng thoát nạn như mình tôi mới biết chúng tôi không có tên trong danh sách không phải từ sơ xuất hay may mắn nào mà từ việc nhìn thấy trong gương mặt kẻ phóng hoả có nhiều nét quen biết chung quanh.

Nàng từ bọn phóng hoả bước ra. Nàng là chúng. Và không phải là chúng. Đã vài lần trong ngọn lửa tôi nhìn thấy nàng. Có thể đó chỉ là một tiên cảm kỳ lạ nhưng đúng là thế. Biết làm sao được, tôi không thể mô tả nhan sắc nàng. Như không thể mô tả hư ảo. Nhưng nàng là hiện hữu. Có lần tôi hỏi bọn phóng hoả từ đâu tới, nàng bảo từ cánh đồng. Vậy bây giờ chúng đi đâu khi tất cả các cánh đồng đã bị thiêu rụi? Nhưng đây không phải là câu hỏi và tôi không có câu trả lời. Sẽ không có câu trả lời vì nàng đã bỏ đi.

Đã mười một giờ đêm ba mươi. Thường thì nếu tới nàng đã tới rồi. Trong cái tổ của mình, như mọi năm tôi cũng chuẩn bị rượu bánh hoa quả. Hoa là một liệu pháp ve vuốt tâm hồn, có lần nàng nói thế. Khi cùng dạo chợ hoa. Nàng chỉ tôn trọng thói đồng bóng của tôi chớ không thấy hay thấy đẹp. Nếu hoa là đẹp thì trừ những thứ do con người làm ra, tất cả đều đẹp. Con người luôn tự cầm tù mình, nàng riết róng. Tôi khó bề bác bỏ lập luận này và cũng không muốn bác bỏ. Đêm sâu lắng lạ lùng ngoài kia, đêm cuối năm. Lại một năm nữa đang qua, một năm nữa đang tới. Những lúc cùng nàng trong tổ của mình thời khắc này tôi mới biết phát hiện thời gian của con người xuất phát từ thói kiêu ngạo và nỗi sợ hãi cố hữu. Người ta đúc kết xem đã làm được gì năm qua, hy vọng đợi chờ gì năm tới. Đúc kết và hy vọng không phải là bản chất sự sống. Con người luôn nhầm lẫn bởi luôn tạo ra các khái niệm. Càng rạch ròi càng nhầm lẫn. Nàng tôn trọng, thể tất cho tôi vì biết không thể khác.

Đã hơn mười một giờ đêm ba mươi, hơn nhiều, chắc thế. Tôi rót rượu và lắng nghe trong im ắng lạ thường mong nhận ra tiếng bước chân nàng. Nhưng chỉ là dửng dừng dưng chiếc đồng hồ tích tắc. Lại một thiết bị được chế tác để đếm thời gian. Vây quanh cuộc sống con người là cả một hệ thống kiểm soát thời gian hoàn hảo.

Rượu là một thực thể. Hồi đó nàng cúi xuống và bọn người phóng hoả bỏ đi. Trên cánh đồng bị thiêu rụi hay bên bờ sông chết nàng cũng cúi xuống đúng một cung cách ấy. Tôi lập tức nhận ra hương vị nàng. Sau này nhiều lần tôi nói với nàng đó là hương vị cuộc sống. Tôi tồn tại cùng hương vị này, lâng lâng như rượu, có khi say, rất say. Nàng cười bí ẩn. Hồi đó tôi đang rất hưng phấn vì những thành đạt những thuận lợi trong công việc dù không mấy gắng sức. Nghề của tôi là phân phối. Phân phối miếng ăn, phân phối quyền lực, cả những người có quyền lực cao nhất thành phố. Tất cả những người sống sót đều tập trung về thành phố. Tôi chỉ là một công chức nhỏ nhưng có quyền lực lớn. Thành phố tôi, vì điều kiện thực tế xã hội rất riêng nên cũng có cách cai trị theo kiểu riêng, được công bố trong những văn bản vĩ đại có tuổi thọ không cao. Nghĩa là nó sẽ thay đổi theo những diễn biến thực tế. Thực tế là người thầy vĩ đại, chúng tôi lý luận như thế và căn cứ vào người thầy vĩ đại đương nhiên là một cách cai trị sáng suốt. Chúng tôi loà xoà vui vẻ từ người cai trị đến người bị trị; sự hoà đồng này có nghĩa, ai ở vị trí nào cũng được nếu tôi ghi vào hồ sơ người đó chức vụ gì hay làm công dân. Công việc quá đơn giản. Chớ không phải ngày xưa trong sử sách, người cai trị phải được nuôi dạy chu đáo từ những bậc tài giỏi nhất hoặc trực tiếp làm nên những kỳ tích hoặc tự mình giành lấy quyền lực theo một cách nào đó. Tôi thấy mình tài giỏi hơn người khi được làm công việc quyết định vận mệnh bao người. Tôi, người sống sót sau khi cánh đồng và dòng sông bị huỷ diệt. Tôi được ngợi ca. Rất nhiều người từ nơi xa hay tin đã tìm đến chứng kiến và ngợi ca sự tồn tại kỳ diệu của tôi, sự thành đạt trong nghề phân phối. Thường thì nàng không có mặt những lúc này. Nàng lớn lao hơn mọi xu phụ, ngợi ca. Nàng chỉ đến khi chung quanh không còn bọn người lăng xăng tôn vinh tôi, vẫn nồng nhiệt và nụ cười bí ẩn. Có một điều lạ, thời kỳ này, mỗi lần chúng tôi yêu nhau thì hôm sau thành phố xuất hiện những dấu hiệu khác thường. Chẳng hạn khoa sản bệnh viện xôn xao mấy vụ quái thai. Chẳng hạn ống nước cấp cho thành phố vỡ, tràn ra trên đường toàn nước bùn. Bộ phim quen thuộc đang chiếu trên ti vi các nhân vật cứ hắt cái bóng sang bên mang hình quái đản như ma quỷ. Một bà mãn kinh đã mười năm tròn tuổi sáu mươi tự nhiên có chửa. Con khỉ nhà ông thị trưởng nói tiếng người chóc chóc… Lúc đầu tôi không để ý. Các bản tin trên tờ báo lá cải chuyên săn lùng chuyện giựt gân không làm tôi để ý. Nhưng cứ sau một đêm cuồng nhiệt lăn lóc cùng nàng, ông thị trưởng lại gọi điện, những lần đầu còn bình thường sau hớt hải vì mức độ kỳ lạ của thành phố. Hôm đó vừa làm tình tôi vừa nói với nàng, ngày mai thể nào cũng có lắm chuyện lạ. Nàng gật đầu tán thành trong hơi thở gấp đôi môi he hé nụ cười thoã mãn. Dường như nàng quá biết điều này. Dường như nàng thích thú nhìn thấy thành phố đang dần biến thành một vùng đất khác như trí tưởng tượng của những bộ phim viễn tưởng. Thỉnh thoảng đi trên đường chúng tôi gặp bầy khỉ vẫy tay hé lô háo a rơ dú? Con khỉ đầu đàn tôi nhận quen là của ông thị trưởng. Nó có vẻ thành thạo phố xá và giao tiếp. Lại cũng như trong phim hoạt hình, đôi khi chạy qua chúng tôi trên ô tô cười toe những bộ mặt không ra người không ra thú. Rậm rịt những biến đổi không theo một quy luật nào cả khắp thành phố. Tôi không biết những đột biến này có nguy hại gì không khi hàng ngày cuộc sống vẫn diễn ra, ngày đêm vẫn trôi qua. Và nàng vẫn đến với tôi những khi phù hợp vẫn nồng nàn cuồng nhiệt.

Cho tới một ngày thành phố xảy ra cơn hoả hoạn chưa từng có thiêu rụi công sức trăm năm của người và cận người, cuộc điều tra nhì nhằng mấy tháng sau mới có kết luận nguyên nhân là do trò nghịch của một con khỉ cứ tưởng nó đã thành người! Không hề có bọn người phóng hoả nhúng tay vào như thoạt đầu tôi nghĩ. Không có bọn người phóng hoả nhúng tay vào đồng nghĩa với việc tôi thất sủng. Hoàn toàn.

Những ngày này nàng thường tới. Chúng tôi đi đây đi đó cho khuây khoả. Lần đầu thấy biển tôi rất xúc động những muốn ào xuống, nàng ngăn lại, anh làm biển tan biến đấy! Tôi biết nàng không nói đùa. Trong tĩnh lặng vô ngần của đáy sâu đầy bất trắc kia phập phù những mời chào như thuật thôi miên. Những dòng sông dại khờ đã bị nuốt chửng. Nhưng biển cô đơn quá. Chính sự cô đơn làm biển vô cùng quyến rủ và khiến tôi nao lòng. May mà còn có nàng bên cạnh. Sẽ một ngày tôi hiểu thực ra biển là gì. Một ngày nào đó, chắc chắn thế.

Nàng không tới. Cái đồng hồ rùng mình cảm lạnh rồi rúm ró nhưng vẫn một… một… một, đều đặn, đáng ghét. Tôi không thể làm gì khác hơn là tự nâng cốc một mình. Nàng thường cười giễu nhưng tôi vẫn cứ mừng tuổi cứ thiêng liêng một lần đầu năm gánh cái gánh trời trên vai phận người. Tôi đưa mắt nhìn những vật dụng trong nhà, giật mình nhận thấy có quá nhiều thứ đo đếm thời gian và lậng cậng một lúc vẫn chưa nhớ ra mình, tới đây, tới cái năm mới này là tôi bao nhiêu tuổi. Nhưng nàng đã không tới. Trên tất cả những vật dụng này đều có thể nhìn thấy nàng, lúc cúi xuống nhìn sững những bông hoa, lúc ngước nhìn những chữ số trên tờ lịch, và nàng ở kia, trên cái giường ngăn nắp hai chiếc gối của chúng tôi. Tôi đoan chắc rằng đâu đó trên giường còn vương những sợi tóc của nàng, mùi hương của nàng. Có lần, sau giờ phút mặn nồng, tôi vùi mặt vào tóc nàng hít mùi mồ hôi vừa rỉ nơi chân tóc mà rằng, anh không thể hình dung nổi mọi thứ sẽ ra sao nếu thiếu em trong đời. Nàng cười bảo sẽ có cánh đồng và dòng sông và tất cả những thứ khi nàng chưa đến. Lần đầu tiên tôi thấy nàng biết nói đùa.

Nàng không tới. Tôi chẳng còn cách nào khác hơn là tự rót rượu chúc tết mình. Ngày mai, ngày đầu năm, trẻ nhỏ sẽ khoe áo mới trong nắng hoe vàng, người người sẽ thăm viếng nhau, người sống và người chết. Nàng không tới nghĩa là không có ngày mai của tôi. Trừ phi, ngày mai chưa là mồng một. Nhưng hôm nay đã là ba mươi, tháng chạp không có ngày ba mốt. Không có ngày ba mốt. Không thể. Tôi không còn một cơ hội nào nữa cả. Nếu không có ngày ba mốt. Thật vô lý, tại sao tháng chạp không có ngày ba mốt? Ngày giờ là do con người sắp đặt chớ có phải tự nhiên đâu? Vậy tại sao tôi không có ngày ba mốt cho mình, ngày mà nàng sẽ tới? Nhưng sẽ là điên nếu bây giờ lại gỡ tờ lịch… Tôi mệt rũ trong những ý nghĩ căng thẳng quay cuồng và sà lại cái giường của chúng tôi. Hình như ngoài trời đã hừng đông.

Nhưng không phải hừng đông. Đó là ngọn lửa rừng rực từ xa của bọn người phóng hoả đang trở lại. Ngay vào giờ phút cuối cùng chuyển giao năm cũ đang qua năm mới đang lại, bọn người phóng hoả đã đốt rụi tất cả. Kim đồng hồ đang rừng rực cháy. Tờ lịch ghi ngày ba mươi co lại tàn tro màu xám. Thời gian sững sờ rồi bị hoả táng.

Có vẻ là tôi đã ngủ thiếp đi và chuyện bọn người phóng hoả huỷ diệt thời gian chỉ là một cơn ác mộng. Ánh nắng mặt trời đã rọi qua ô cửa. Ngoài kia chắc là bọn trẻ đang súng sính áo mới trên đường. Mọi người đang thăm viếng nhau, người sống và người chết. Tôi uể oải đưa mắt nhìn những vật chứng trên tường để yên tâm rằng nỗi sợ hãi của mình về bọn người phóng hoả chỉ là cơn ác mộng thì thật đáng kinh ngạc, kim đồng hồ đã chết cứng ở thời khắc trước giao thừa. Nó sạm đen, cong vênh một cách kỳ dị. Còn tờ lịch có ngày cuối năm, ngày ba mươi tết đã hoàn toàn biến mất, dưới nền nhà là tàn tro rơi lả tả. Tôi vùng dậy không tin vào mắt mình: blốc lịch đang có ngày ba mốt!

Phát hiện mới nhất này khiến tôi kinh hoàng: thì ra lâu nay tôi sống theo thói quen, rằng, tháng chạp chỉ có ngày ba mươi, rằng, chỉ có một biển một sông một trời một đất. Nụ cười bí ẩn của nàng đã được giải mã. Biển mà nàng không cho tôi chạm tay vào đã rất tường minh. Bọn người phóng hoả và nàng, tất cả thật đến không ngờ. Phải, tôi tỉnh hơn bao giờ hết. Nàng sẽ tới trong ngày hôm nay, ngày ba mốt của tháng chạp để nghe tôi nói rằng, vì sao tôi yêu nàng đến thế!…

Suối Trầu, 16 – 6 – 2006

 

Tháng Ba 10, 2011 - Posted by | Binhdinhonline, Hội VHNT Bình Định, Làng văn

Chưa có phản hồi.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: