Bình Định online

Cơ quan Thông tin truyền thông vỉa hè

Hội Nhà văn Việt Nam giới thiệu nhà văn Lê Hoài Lương


Năm truyện ngắn của Lê Hoài Lương

27-02-2012 10:14:22 AM

VanVN.Net – Lê Hoài Lương, tên thật và cũng là bút danh của nhà văn đất võ Bình Định. Anh sinh năm 1961, hiện sống và làm việc tại Nhơn Phú, Quy Nhơn, Bình Định. Lê Hoài Lương sở hữu một “gia tài” văn chương khá giàu có với ba cuốn sách và những Giải thưởng của báo Văn nghệ và Tạp chí Văn nghệ quân đội trao cho những truyện ngắn đặc sắc. VanVN.Net xin trân trọng giới thiệu chùm truyện ngắn của Lê Hoài Lương…

Nhà văn Lê Hoài Lương


LỖI TẠI MẸ ÂU CƠ

1.

“Đó là tiền định. Mẹ không có quyền lựa chọn thay vì đẻ một bọc trăm trứng nở ra cùng lúc trăm đứa con sàn sàn nhau hay là đẻ từng đứa có vai vế anh em rõ ràng.”

“Dẫu sao thì chúng con cũng luôn tự hào rằng tất cả là đồng bào. Cùng một bọc cũng hay chớ sao. Nhưng mẹ là Tiên, cha là Rồng, đây mới là lý lịch dòng dõi đè nặng trên vai chúng con mấy ngàn năm qua. Người ngoài ngạc nhiên đã đành, chúng con vừa tự hào vừa ngạc nhiên không kém. Sao cha, mẹ không phải gốc người, không cùng chủng cùng loài mà sinh con, lại là những đứa con không hề kế thừa chút nào tinh tuý của cha Rồng mẹ Tiên? Những đứa con phải chia tay nhau sau đó lên rừng xuống biển lập nghiệp và đã có quá nhiều lần huynh đệ tương tàn, nhiều lần buộc phải giải quyết bằng cách chia để trị. Chúng con đã không thể mạnh lên vì cứ bằng vai phải lứa thì ai chịu nhường ai. Và vì sao không ai trong chúng con kế thừa được tinh tuý con dòng cháu dõi?”

“Mẹ đã nói đó là tiền định. Cho tới giờ mẹ cũng không biết vì sao có cuộc nhân duyên giữa cha và mẹ. Đúng ra mẹ muốn mình là người bình thường để có cuộc sống bình thường như các con sau này. Để, nếu được làm mẹ một lần nữa, mẹ sẽ có niềm hạnh phúc bình thường với người đàn ông mẹ yêu và lóng lánh những giọt mồ hôi trong cơn đau trở dạ.”

“Sao mẹ không lựa chọn điều đó khi làm mẹ chúng con?”

“Mẹ không được quyền lựa chọn. Mỗi dân tộc được sinh ra đều có những bi kịch riêng, những bí ẩn riêng.”

“Sau cuộc chia tay vĩ đại ấy, có khi nào cha và mẹ gặp lại nhau?”

“Có chứ. Thường xuyên trong những lần các con nhắc tới dòng dõi mình.”

“Không phải, ý con là cha mẹ bất tử bất lão, có khi nào gặp lại nhau để tái hôn và làm cuộc sinh nở khác hợp lý hơn lần đầu? Và có thể sẽ có một dân tộc tinh tuý thực sự?”

“Ta không thiết tha lắm không hy vọng lắm cuộc sinh nở nào khác. Bấy nhiêu chưa đủ khổ cho các con ư? Và ai biết cho dù lần sinh sau của ta đẻ thứ tự từng đứa thì chúng không tàn hại nhau, riết róng nhau như bây giờ?”

“Vậy thì mọi thứ lỗi ở chúng con? Lỗi ở chỗ chúng con đứa nào cũng muốn làm vua, đứa nào cũng có thể làm vua?”

“Không hẳn. Các con cũng từng có những vị vua tốt được nhân dân muôn đời ngợi ca đấy chứ. Có nhiều tượng đài được dựng lên để hậu thế chiêm bái. Điều này thì con biết quá rõ còn gì.”

“Vâng, nhiều tượng đài. Nhưng không có tượng đài nào cho thuỷ tổ là cha mẹ. Điều này có bình thường không? Hay là nguồn gốc chúng con có gì đó chưa thật sáng tỏ? Hay là cha và mẹ không thật? Hay là biết không phải nhưng chúng con cứ dựng nên gốc gác mình cho sang? Hay là…”

“Ta không trách con những băn khoăn nghi ngờ. Ngay cả ta còn ngờ ngợ huống chi… Nhưng thôi, chẳng lẽ mẹ con ta cứ loay hoay mãi về vấn đề nguồn gốc của các con mà ta đã nói là tiền định.”

“Vậy chúng con, để cũng cố niềm tin bằng cách dựng tượng đài cho cha và mẹ thì mẹ giúp chúng con chứ?”

“Ta sẵn lòng. Không có gì khó khăn trong chuyện này cả. Nhưng lâu nay ta và cha con đã từng có tượng đài rất vững chắc trong lòng các con đấy thôi, tượng đài không thể phôi phai theo mưa nắng, thời gian. Vì sao bây giờ phải làm tượng đài thật. Có ai đó nghi ngờ nguồn gốc xuất thân của các con chăng?”

“Một nguồn gốc xuất thân sang trọng như thế việc gì nội bộ chúng con nghi ngờ, dù rằng, thật ra chúng con chẳng thương yêu nhau lắm. Chúng con chỉ gắn kết với nhau khi thấy có nguy cơ bị tiêu diệt. Chỉ vì cứ loay hoay mãi chúng con vẫn thấy chưa xứng tầm với gia phả. Và có thể người ngoài sẽ bảo chúng con là những kẻ khoác lác?”

“Thật đáng tiếc, ta chẳng giúp gì cho các con trong vấn đề nội bộ. Còn người ngoài không ai quan tâm đến thành phần xuất thân của người nước khác. Xứ sở nào chẳng có cái cách riêng của mình để hình thành một cộng đồng đáng tự hào. Sự hùng mạnh mới có sức thuyết phục chứ không phải gia phả.”

“Mẹ có thất vọng về chúng con không, trong chuỗi dài mấy ngàn năm tự khẳng định mình?”

“Không. Ta đã chẳng giúp được gì cho các con khi từ cách sinh ra, các con đã tự gánh lấy một sứ mạng nặng nề. Sự tồn tại mấy ngàn năm đã là khẳng định. Nhưng có chút âu lo là các con đã quá hãnh diện về sự tồn tại này.”

“Đôi khi chúng con nghĩ dại rằng đất nước nghìn năm của chúng ta những thời điểm nguy nan là thực sự tốt đẹp. Khi ấy chúng con khá hơn nhiều, yêu thương nhau, đoàn kết tạo ra sức mạnh đáng kể và kẻ thù hùng mạnh nào cũng bị đánh bại. Thời bình lại lắm thói hư tật xấu, lại tranh giành xâu xé nhau. Sẽ có cách nào đó thoát ra khỏi tình trạng này, mẹ hãy giúp chúng con!”

“Giá như mẹ có thể.”

“Vì sao?”

“Các con không ai chịu ai. Mọi xưng tụng nếu có cũng chỉ vì mục đích có lợi. Cũng đành, như đã nói với nhau, chuyện này không phải lỗi ở các con. Nếu cần một lời khuyên, ta chỉ nói rằng, hãy giảm bớt niềm kiêu hãnh!”

“Làm sao biết được mức nào là kiêu hãnh cần thiết?”

“Ta không biết thế nào là kiêu hãnh cần thiết. Nhưng hãy nghĩ cách làm sao cho tương lai tốt đẹp hơn là cứ tổ chức những cuộc tán tụng nhau về quá khứ.”

“Thực ra vì như con đã nói, chúng ta chỉ giỏi đánh giặc để tồn tại. Chúng con chỉ thật giỏi giang khi đất nước lâm nguy. Khi cầm gươm cầm súng chúng con cũng nghĩ là vì tương lai tốt đẹp hơn đấy chứ?”

“Giặc đến thì đánh, đó là lẽ tự nhiên. Đánh đuổi giặc để bảo vệ nòi giống, đó là điều tốt. Nhưng hùng mạnh để không ai dám bức hiếp mới là thật đáng tự hào. Sao không bảo ban nhau vì mục đích bền vững lâu dài và là cơ sở căn bản cho độc lập tự chủ thực sự này?”

“Chúng con không ai chịu ai… Cùng một tiếng nói mà mỗi vùng miền đã phát âm khác nhau… Kẻ thô mộc chê người kinh lịch giả trá; người đô hội có ý phô trương văn minh khai hoá… ai cũng tự hào về cái điều vụn vặt vùng mình, nhà mình và rất thích dùng chữ truyền thống. Chữ truyền thống được lạm dụng đến mức nó ngơ ngác với chính mình rồi thành một món lẩu thập cẩm tha hồ mọi người vứt bừa vào đó thứ gì mình khoái khẩu, thậm chí chỉ là thứ sẵn có trên tay chớ không cần lựa lọc… Thực tế này mỗi thời một khác nhưng nó là một thứ mặc cảm tự tôn đã ăn sâu trong máu thịt. Mẹ hãy giúp chúng con hoá giải…”

“Phải, lỗi tại ta, cơ sự này…”

 

2.

Vua nói: “Ta thoái vị thôi. Muôn dân đang trông chờ người tài đức hơn ta để gánh vác trách nhiệm này.”

Hội đồng bô lão nói: “Ngài cứ tại vị. Chúng tôi biết ngài không có tài nhưng ngài cần cho chúng tôi. Như thế là quá đủ.”

Vua nói: “Nhưng còn dân chúng? Và đất nước đang phải nhịn nhục, bị o ép nhiều phía? Ta biết mình không được học hành tử tế, không được đào tạo căn bản để làm vua.”

Hội đồng bô lão nói: “Ngài từng biết nước ta có nhiều vị vua không hề được học hành tử tế, không được đào tào căn bản để làm vua. Dân chúng thì thời nào cũng vậy, họ luôn đòi hỏi. Họ đang ở xa. Chúng tôi mới trực tiếp bỏ phiếu cho ngài. Ngài sẽ không chịu thiệt đâu.”

Vua nói: “Nhưng đời sau sẽ lên án, nguyền rủa chúng ta tham quyền cố vị, làm suy kiệt đất nước. Càng lúc ta càng thấy muôn dân coi thường triều đại mình. Các ngươi không thấy sao?”

Hội đồng bô lão nói: “Thì có riêng triều đại ta đâu, lịch sử có khối ra đấy. Tiếng thơm tiếng nhơ. Vả lại, đã chắc gì người khác giỏi giang hơn. Ngài cứ an vị.”

Vua nói: “Thôi thì ta nghe theo các ông. Ở ta còn có những vị trí ngoài luật. Nhưng các ông đừng vì thế mà quá quắt.”

 

3.

Người dân 1 nói: “Sắp tới chúng ta sẽ giàu có sung sướng. Mới có chiếu vua ban rất quan tâm đến quyền lợi đám dân đen chúng ta.”

Người dân 2 nói: “Đúng là một bậc minh quân!”

Người dân 3 nói: “Sắp tới bọn quan lại không còn nhũng nhiễu dân chúng nữa. Mọi người đều bình đẳng và hành xử theo luật.”

Người dân 4 nói: “Vừa rồi nhà vua đã ra chiếu nhận lỗi với muôn dân vì có quá nhiều sai phạm nghiêm trọng của quan lại trong triều. Chắc chắn bọn này sẽ bị nghiêm trị. Dân tộc ta thật có phúc!”

Người dân 5 nói: “Lạy trời, đời ta tận hiến không uổng. Con cháu ta sẽ được sung sướng.”

 

Quan 1 nói: “Dân vẫn còn tin chúng ta!”

Quan 2 nói: “Sẽ cho họ chút ít quyền lợi. Bản chất của đám đông là cả tin. Nhưng đừng cho nhiều quá. Được voi họ sẽ đòi tiên!”

Quan 3 nói: “Mềm nắn rắn buông.”

Quan 4 nói: “Sẽ có nhiều lễ hội, nhiều vui chơi giải trí tập thể. Người dân sẽ hài lòng vì được xã hội quan tâm. Đây là một kiểu tín ngưỡng mới của chúng ta.”

Quan 5 nói: “Huy chương và bằng khen không hạn chế số lượng. Thứ tự rồi đều có cả.”

 

4.

Tất cả các dòng sông đều chảy.

Núi, đồng bằng và biển.

Nắng.

Mưa.

Gió bão.

Mỗi mùa một khác.

Mặt trời lúc ẩn lúc hiện đi qua bầu trời ngày ngày. Mặt trăng lúc mọc lúc lặn đi qua bầu trời đêm đêm.

Những bông hoa cứ tàn rồi nở. Nở để rồi được tàn úa.

Một đứa bé đang hình thành bảo: “Tôi có quyền không sinh ra chứ?”

 

5.

Mẹ Âu Cơ nghĩ ngợi lung lắm. Bà có điều khó xử. Chẳng lẽ cứ để mọi thứ diễn ra theo quy luật, hết mưa rồi nắng hết thịnh lại suy? Trong cái hữu hạn đời người rất không thể lựa chọn sống thời thịnh, cũngkhông thể biết mức nào là cực thịnh cực suy. Đám đông con bà phải bám vào ảo tưởng thường trực để tồn tại. Số ít tầng lớp trên thì tham lam, ma mãnh. Lỗi tại ta, bà nghĩ, có thể sẽ làm lại một cuộc “vượt cạn”. Một thế hệ mới sẽ ra đời cho đất nước phồn vinh. Nhưng liệu chúng nó có thực muốn ta sinh nữa không? Và những đứa con trong lựa chọn sửa sai của ta có muốn chào đời?

 

Suối Trầu, 20 – 6 – 2006

 

DI TẢN

 

Đàn kiến đã đang di tản. Như dòng họ của chúng từng di tản cách đây ngàn vạn năm. Có một điều lạ, kiến thì đen mà trứng, con non của chúng thì trắng, trắng phau. Và thêm một điều nữa, kiến không biết tiếng người. Nhưng có một người nghe được tiếng kiến. Người đó là vợ tôi. Dù rằng vợ tôi ít học chưa hề biết có cuộc di tản vĩ đại của con thuyền Noah mà thượng đế đã thương tình cứu vớt loài người và vài cặp con vật. Chúa bảo với Noah “Hãy chấm dứt các thú vui xác thịt trước mắt ta, trái đất dẫy đầy bạo lực cũng vì điều này. Và lúc này ta sẽ huỷ diệt con người trái đất. Ngươi hãy tự biến mình thành chiếc thuyền lớn bằng gỗ gopher…Lúc này ta sẽ mang đến trận Hồng thuỷ- nước phải bao phủ trái đất tiêu diệt mọi sinh linh nơi đó”. Dù đọc nhiều lần sách Sáng Thế, sự việc cách đây cũng ngàn vạn năm tôi còn chưa nhớ huống chi. Chuyện này không bàn thêm nữa.

Đàn kiến đã đang di tản. Cả cha con chồng vợ. Tất nhiên sau này rất lâu vợ tôi mới nói cho tôi biết vì sao hôm đó đàn kiến di tản. Lũ kiến nói với nhau: “Chúng ta phải tự cứu lấy mình!” Điều này không hề làm tôi xúc động. Thật đấy. Cuộc sinh tồn khốc liệt bây giờ đã dạy tôi quá biết. Nhưng vợ tôi thì ngạc nhiên. Đời nàng quá suông sẻ. Tôi yêu nàng và nàng triền miên ngủ. Ngay cả lúc làm tình. Tôi không hiểu vì sao với tất cả những người phụ nữ tôi từng chung đụng không ai ngủ lúc ấy mà vợ tôi vẫn ngủ. Có lần tôi hỏi lúc nàng thức dậy rằng vì sao em ngủ nàng bảo nàng thích ngủ, tôi còn biết giải thích thế nào, hở trời? Nhưng đó là vợ tôi, chuyện nội bộ, hãy để chúng tôi tự giải quyết, đừng ai xía vào. Bởi vì, đàn kiến đã đang di chuyển, không, đang di tản. Và chuyện này có can hệ rất lớn. Với mọi người, tôi nghĩ thế.

Di tản là bản năng sinh tồn. Người anh ruột của vợ tôi, thiếu tá quân đội Sài Gòn đã di tản và anh  bị một người cấp dưới của mình gõ vào sọ một phát để sau đó bị xẻ thịt cứu đói cho cả thuyền đang lạc đường trên biển, trong lộ trình tìm “đất hứa”. Không thể đòi hỏi rằng đáng lý anh gõ vào sọ thằng đó mới phải. Chuyện sinh tồn chưa bao giờ có màu sắc cấp trên hay cấp dưới. Tôi hiểu, quá hiểu, nhưng vợ tôi thì không. Và nàng ngủ. Đó là quyền của nàng. Tôi không máu mủ gì với thiếu tá. Thậm chí nếu gặp nhau trước đây, tức là thời chiến tranh có khi tôi và anh vợ tôi bắn nhau không chừng.

Nhưng tôi đang kể chuyện đàn kiến đã đang di tản.

Một lần khi hoàn toàn thất nghiệp, về căn bản tôi luôn thất nghiệp, tôi lên rừng tìm bắt trứng kiến về bán cho đám người thành phố thích chơi chim. Thời ăn sung mặc sướng bây giờ ở phố ai cũng thích chơi chim nên mỗi chuyến đi tôi kiếm cũng được vài ngày hồn nhiên ru vợ ngủ. Chỉ đột nhập gấp gãy mới kiếm được đủ tiền cho điều mới nói. Đám kiến, đừng tưởng, chúng thính nhạy gấp ngàn lần con người về thông tin nguy hiểm, hay có thể nói cách khác, con người không đến nỗi ngu ngơ nhưng về nguyên tắc, đứa này chết là niềm vui của đứa khác, bi kịch của người này là hạnh phúc của người kia. Phải không? Nhiều lần tôi hỏi bạn bè, bạn bè chỉ cười cười, nói chung chung. Nhiều lần tôi hỏi vợ tôi, nàng chưa kịp trả lời thì đã ngủ. Vậy tôi hỏi mọi người bằng câu chuyện này.

Bọn kiến di tản hẳn có lý do riêng. Vì có lần vô công rồi nghề, tôi cứ ngồi từ sáng tới tối bắt những con kiến lang thang kiếm ăn thả vào bẫy cát của đám cút. Những con cút cụt đuôi. Tôi thích thú nhìn những con kiến bị nạn không lên khỏi những hạt cát mịn hình nón ngược. Có vẻ tôi hài lòng vì ít ra tôi cũng có  thể tiêu diệt được vài sinh linh. Vợ tôi bảo, kiến có tổ chức tốt lắm, những con đi không, là sếp, dù sếp này không phải do cộng đồng kiến bầu. Đừng tưởng, kiến mê tín hơn người.

Hôm qua vợ tôi kể cô Thảo bỏ chồng, đúng ra là không thể không bỏ đi vì bị chồng đánh quá dữ. Chồng say xỉn triền miên, mới ngoài ba mươi đã hết xí quách theo cách nói của mọi người. Chuyện chồng cô thượng cẳng tay hạ cẳng chân bàn dân thiên hạ chẳng lạ gì dù cô bán quán nhậu bình dân và nuôi heo rất giỏi. Cô không hẳn nhan sắc nhưng rất ấn tượng ở cái vẻ rừng rực, nhất là khi chồng cô cứ bạ đâu ngủ đó, bất chợt tỉnh say lại tìm về đè nghiến cô ra. Chắc chắn cô không thể hài lòng. Cô cũng là người chớ không phải kiến- liên tưởng này không chắc lắm nhưng tôi cứ nói đại khái thế- cô là người. Ai cũng biết cô trai gái với vài thằng trong vùng. Sểnh ra là trai gái. Một lần chồng cô rình và bắt được sau khi giả bộ say về nhà cha mẹ ngủ như mọi khi, như mọi khi trốn vợ, như mọi khi say xỉn, và vẫn như mọi khi luôn lè nhè chưởi đứa nào bảo vợ mình trai gái. Thảo đã rơi vào bẫy. Dù không bắt quả tang nhưng vết tích giữa đùi cô chưa kịp phi tang không thể cãi được. Và nó đánh. Chồng nó đánh rất tàn bạo ngay lúc ấy. Nếu không có người hàng xóm tốt bụng qua ôm giữ cho cô thoát chạy luôn trong đêm mất dạng, án mạng như chơi. Vợ tôi hùa với hàng xóm lên án Thảo. Nhưng có vẻ như vợ tôi và hàng xóm ganh tị với người đàn bà này. Họ không dám làm như cô. Và ganh tị, trong những dè bỉu về đức hạnh. Thực ra đức hạnh là điều gần như không thể luận bàn cũng như chỉ có thể quan sát bề ngoài chuyện đàn kiến di tản. Trừ vợ tôi ra, tôi thách cả thế giới này biết được vì sao kiến di tản.

Đấy, đàn kiến vẫn đã đang di tản. Theo một trật tự, kỷ luật rất bí ẩn chỉ vợ tôi biết. Nhưng vì luôn ngủ và ít học nên vợ tôi không thể biết thông tin mới nhất trên mạng Internet về những “đại gia” có tiền gởi các ngân hàng uy tín nhất thế giới. Tới vài trăm. Phần đông số này là tai to mặt lớn. Phần đông có vẻ rất liêm khiết. Do đâu họ nhập hàng giàu có nhất nước tôi, tôi còn chưa hiểu huống chi vợ tôi, người liên miên ngủ và nghe được tiếng nói của lũ kiến. Nhưng rõ ràng kiến cũng không biết rằng đây là một  kiểu di tản của con người. Nhưng rõ ràng kiến mê tín hơn người và sau này rất lâu vợ tôi mới cho tôi biết vì sao đàn kiến đã đang di tản.

Vợ tôi bảo kiến cũng ăn kiến chớ không riêng gì chuyện người ăn người. Chuyện ông anh thiếu tá Sài Gòn của nàng bị thằng cấp dưới gõ một phát vào sọ và bị xẻ thịt không hề nguôi ngoai trong nàng. Liệu nàng triền miên ngủ, cả trong lúc làm tình có phải là một kiểu di tản? Khi mà nàng cũng đồng tâm nhất trí với những người phụ nữ chung quanh lên án đức hạnh cô Thảo. Dù sao tôi vẫn cứ yêu nàng. Dù đàn kiến không bao giờ dự báo sai thời tiết để chết hàng loạt trong mưa bão như con người. Con người liên miên dự báo sai và không ngừng nghỉ tàn sát nhau chớ không riêng chuyện thiếu tá anh của vợ tôi bị thuộc cấp gõ một phát vào sọ rồi bị xẻ thịt. Cả khi no con người cũng tàn sát nhau.

Vợ tôi luôn có lý do để triền miên ngủ và dè bỉu đức hạnh giống cái trong đời. Cả khi nghe một nhà thơ ngợi ca nàng vọng phu bồng con chờ chồng mà hoá đá. Nàng bảo giả dụ là nàng thì nàng để đứa con hồn nhiên hoá đá thay nàng vì chỉ đứa con khờ khạo không biết gì! Những đứa con khờ khạo suốt dọc dài đất nước này đã hoá đá. Một phần cũng là lỗi của chúng. Và nàng chắc chắn nói thật lòng trong lơ mơ ngủ, trong lúc chúng tôi đang làm tình. Không bao giờ tôi nghi ngờ phụ nữ những biểu hiện của họ lúc đang làm tình và ngủ. Nhưng giả dụ tôi là Noah trong chiếc thuyền huyền thoại kia thì tôi cũng cẩn trọng như ông, ba lần thả quạ mới thả thử chim bồ câu và biết nước đã cạn khi chim câu không bay về chớ không lấy vợ thả thử vì nàng cứ triền miên ngủ. Nàng ngủ nhưng khác đứa con vọng phu vì nàng còn nghe được tiếng nói của loài kiến trong cuộc đã đang di tản. Có thể nàng có kinh nghiệm từ một người phụ nữ áp bầu vú mình vào mặt đứa con đến chết ngộp để cứu một cán bộ trong hang khi đứa bé không hề hiểu thế nào là di tản, mà chung quanh đầy rẫy kẻ thù. Nó chỉ biết khát sữa. Câu chuyện này thời bình được kể như lòng tự hào dân tộc về truyền thống yêu nước. Đứa bé đã hoá đá vì không phải là loài kiến được di tản.

Vợ tôi không phải người phụ nữ đó. Tôi yêu nàng. Nhiều lần nghe từ lũ kiến, nàng cảnh báo tôi di tản thoát nạn. Tôi đã không bị chết ngạt từ bầu vú để cứu một ai tôi chưa hề biết. Có thể đó là lý do chính tôi yêu nàng. Nàng từng cứu tôi không bị chết ngạt trong bầu vú. Vì một ai đó tôi chưa hề biết.

Tuy được cứu nhưng có lúc vô công rồi nghề tôi cũng nhổ một bãi nước bọt vào dòng dài dằng dặc lũ kiến đã đang di tản, khoái chí thấy chúng rối nhặng xị đôi chút. Có lúc còn bắt vài con thả vào bẫy cút. Tôi không ưa cuộc di tản triền miên của chúng. Tôi không thích đã sống là triền miên di tản. Nhưng tôi không thể thoát ra khỏi nỗi ám ảnh triền miên trong cuộc đã đang di tản của chúng. Hình như chúng cũng tự biết điều này chớ không hề có sự khai báo nào của vợ tôi vì vợ tôi cứ ngủ, luôn ngủ.

Cho tới một hôm nàng giật mình ớ ra rồi tỉnh giấc khi nghe một thông tin trên đài phát thanh rằng đàn kiến di tản ngàn vạn năm qua bỗng nhiên biến mất trên lộ trình. Có thể chúng đã bị nhấn chìm trong trận đại hồng thuỷ thứ hai. Có thể chúng đã không cần di tản, chúng vốn thính nhạy nguy hiểm hơn con người gấp ngàn lần. Có thể chúng biết rằng di tản là vô ích. Không có thì tương lai cho cuộc di tản ngàn vạn năm này.

Nhưng khi vợ tôi thức dậy, tôi vĩnh viễn không thể biết vì sao đàn kiến đã đang di tản như có lần nàng hứa sẽ giải thích cho tôi nghe. Vĩnh viễn. Thông điệp duy nhất của lũ kiến có lần vợ tôi phiên dịch trong lơ mơ ngủ là “Chúng ta hãy tự cứu lấy mình!” Nhưng bí mật đã đang di tản của kiến chắc chắn không phải chỉ có vậy. Vì di tản không có trong mật mã sự sống. Nó chỉ là sự khởi đầu. Của nỗi sợ sống. Điều này không đúng với cô Thảo vì cô đã không di tản. Vợ tôi chắc chắn không hài lòng nên không ngủ nữa. Tôi không còn một cơ hội nào trong đời cũng như thiếu tá anh vợ tôi và đã lập tức hoá đá. Dù không có bầu vú nào áp vào mặt. Lời hứa của tôi về câu chuyện không có đoạn kết.

 

 

NGƯỜI MẤT BÓNG

“Bóng tôi (mà) tôi ngỡ bóng ai (là) tôi nhầm”

 

                      Lời một bài ca quan họ cổ

 

1.

Gã tướng ngũ đoản. Sách tướng các thứ có mấy giảng giải tương đối giống nhau về hình dong của gã, một hình dong không bình thường. Gã cao có mét rưỡi, đậm chiều ngang, di chuyển láy pháy trên đường gần giống khối vuông ru- bíc, ai muốn tìm ông trùm quản truyền thông văn nghệ hễ thấy cái khối vuông di động trên đường là đích thị gã. Gã di chuyển láy pháy chân tay vì chân tay ngắn củn, cách di chuyển cho theo kịp mọi người dài và thong dong hơn đã quen từ nhỏ. Là sau này, khi gã đã thâu tóm trọn gói cái cơ quan truyền thông, người gã mới phát bề ngang đến vậy chứ ngày xưa khổ nghèo nơi xóm núi quê gã, tuy thấp tè nhưng gã còn dễ coi. Thêm cái cách gã cười: chỉ có tiếng hé hé phát ra từ cổ còn hình khẩu thì không thấy cười. Tóm lại giờ gã dị tướng. Ông bà nói những người dị tướng ắt là tài cao. Trước, gã rụt rè ngâm ngấm niềm vui khi nghe ai nói cái sự kèm theo hai bề na ná nhau của gã, giờ gã hoàn toàn hài lòng thừa nhận đúc kết giỏi dang của người xưa. Nhiều lần gã xoa tay nói với vợ, một người đàn bà cũng bé hạt tiêu, cũng đôi lứa xứng đôi về chiều cao, riêng bề ngang, dù đẻ ba lứa rồi, mụ cũng ỏn ẻn giữ được nét thon gọn nhờ tập mấy bài dưỡng sinh đều đặn và ăn kiêng. Mụ nhan sắc khiêm tốn: cái trán dồ quá khổ, đôi mắt xếch, mũi tẹt, miệng hô nhẹ, da còn di chứng đậu mùa xưa nên không thể mịn màng, chỉ lúc mụ cười là thấy có duyên. Cũng chỉ là cái duyên vừa vừa, nghèn nghẹn bên những hạn chế về hình thể. Chỉ riêng điều này mụ khá: chụp chóp mao gã, giằng gã ra khỏi tay một người đàn bà khác xinh hơn, lành hiền và chỉ biết khóc, một cuộc xuất chiêu thần sầu với cả những chiêu thức phiêu lưu nhất mà người phụ nữ có được, và cuối cùng mụ có gã, cái gã trai lúc ấy chỉ cắm đầu lao vào cuộc khám phá mới mẻ, hân hoan về giới chứ chưa có chút kinh nghiệm về đàn bà. Mụ có gã. Và hoàn toàn thuần phục được gã, không phải, gã chưa rong hoang chó dái để gọi là thuần phục, mà chủ yếu là từ khi có vợ, gã dừng hẳn các cuộc phiêu lưu tình ái, sau này cả những lúc nhậu xong anh em thường hát hỏng cho vui, rượu và chút hương phấn cho vui, gã cũng kiên quyết từ chối. Người bảo mụ cao tay ấn, người nói khích rằng gã sợ vợ, mặc, gã không tham gia mấy cái vui e chừng bất lợi. Thực ra, thì ra, là cái bất lợi khác gã cố né. Có lần gã bảo ngày xưa các cụ đáng nể thật, dám tự bỏ chức năng đàn ông để vào cung kiếm chút quyền lực danh lợi, kiếm nhiều quyền lực danh lợi. Thời buổi người ta cho các cuộc vui này là sai là xấu là dễ bị quy tội hủ hóa là có tì vết khó tiến thân nếu tranh nhau cái ghế, gã sẵn sàng hy sinh. Một người chồng mẫu mực. Một viên chức thanh sạch, đứng đắn. Một cán bộ nhà nước không có tì vết về sinh hoạt cá nhân. Tóm lại là một công dân tốt.

Nhưng mà chuyện không phải là công dân tốt hay xấu. Gã không muốn làm công dân. Gã muốn làm vua!

Cũng không sao chuyện mơ, mong, muốn làm vua. Ai ai đều có quyền, thích thì mơ mong muốn. Những người gần gã cũng khó xác định được giấc mơ quyền lực, khao khát quyền lực nơi gã bắt đầu từ lúc nào. Gã thì cứ hì hì hà hà nhậu hết mình với anh em, hì hà tếu táo vui vẻ và, kín như bưng. Cái thế giới bên trong gã kín như bưng. Không bao giờ gã bộc lộ chính kiến vấn đề gì. Ai hỏi tới gã trớ rất nhanh sang chuyện khác, vui vẻ tếu táo và huề cả làng. Gã trẩn siêu hạng. Chắc chắn không ai dạy gã bản năng chính khách này, cũng không hề là sách vở: thời buổi sùng bái cá nhân và thói đồng bóng thay những mạch lạc luận lý đã dần vun cao cao vọng trong gã, ngày càng cao, vì gã kịp nhận ra đây là thời của mình, thời của nhập nhằng các giá trị.

Nhưng nhận ra thời nhập nhằng các giá trị, giữ mình từ sinh hoạt đến kín bưng con người thật, cảm xúc thật… chưa đủ để trở thành người thâu tóm được quyền lực. Mà phải chủ động hành trình đến ngôi vua. Gã bàn với vợ. Mụ mừng ra mặt. Tham vọng, thì đúng thằng đàn ông không có tham vọng là đồ vứt, thứ đến là phương pháp thực hiện tham vọng đó. Và cuối cùng, nếu gã lên ngôi đương nhiên mụ là hoàng hậu. Tất cả đều hợp lẽ.

 

2.

“Tôi đoạn tuyệt với quá khứ buồn đau, tủi nhục bằng việc tự thiêu hủy tất cả những sáng tác trước năm bảy lăm…” Gã viết trong đơn xin vào đảng mấy dòng thống thiết có vẻ không cần thiết nhưng cũng làm nhiều người xúc động. Đó là trong đơn. Còn thực tế thì lãng mạn và kỳ bí hơn nhiều. Vì chuyện đoạn tuyệt này chỉ lặng lẽ diễn ra trong đêm, trong vườn cây sau nhà gã nên nếu gã không kể không ai biết được cả. Gã kể rằng:

“Một đêm thu, cái mùa thu mình mới cưới vợ. Sau khi nàng ngủ say, mình đem toàn bộ những ghi chép, những bài thơ dịch, những tác phẩm đã in trên các tạp chí, tập thơ và những sáng tác còn nằm rải rác trong các cuốn sổ, cuốn vở học trò… đã được chuẩn bị sẵn từ chiều ra vườn. Một chai rượu Bàu Đá và vài cây nến. Khu vườn nhỏ lòa xòa mấy tán vú sữa, mảng cầu, ổi, những lùm bụi con người trồng và mọc hoang, nói chung một vùng cây lá ít được chăm sóc. Trước đó mấy ngày có cơn mưa lớn nên không khí còn đẫm hơi nước, rải rác mấy khóm lân tinh từ nấm đất. Mùi lá ủ ngai ngái. Tiếng côn trùng rả rích, chủ yếu là các âm vực dế, mấy con dế không hẳn có sẵn trên đất vườn, hình như nó vừa bay tới từ lãng đãng sương thu qua mấy tầng trăng trên vòm lá. Một khu vườn được bao bọc bằng mấy bức vách nhà phố mà vẫn có đầy đủ những nét đặc trưng của vườn quê. Mình đốt nến. Ngọn lửa rùng mình, ngỡ ngàng và mê hoang. Bóng tối lổ chổ. Ngoái nhìn sau lưng, thấy bóng mình trùm lấp chập chờn cả vùng cây mảng vách. Và bắt đầu. Một ngụm rượu mình đốt mấy tờ, tờ rời đốt trước, trong sổ trong vở đốt sau. Cuối cùng mới đến tập thơ in lậu trước bảy lăm, lúc này mình đang học đệ nhị, năm sau là giải phóng, tập thơ in rô-nê-ô “Những cánh chim rã rời”.

Gã kể lại cái đêm xa xưa trong khu vườn ấy lúc đã có trong tay vài cơ hội, vài đổi thay thân phận. Từ một công chức quèn đói khát mùa bao cấp vĩ đại, đêm đêm cày cục nhờ quen biết xin làm thêm việc canh cổng xé vé ở rạp chiếu bóng kiếm thêm cái bánh cho con, lúc này, lúc kể chuyện, đã là phó phòng nghiệp vụ của cái sở quản lý trang viết, lời nói và ý nghĩ con người. Đây là chặng thành công đầu tiên của hành trình mượn bóng. Những cái bóng to dài hơn bóng gã. Dẫu gì thì cũng đã là một phó phòng, còn trẻ, mẫn cán, không tì vết các sinh hoạt cá nhân và đã được kết nạp đảng, rất được cảm tình với lá đơn thống thiết.

“Rượu và từng tờ thơ rơi thành tàn tro. Những tàn tro xám đen trước khi rơi vụn còn hiện lên những dòng chữ cháy đổi màu, mong manh niềm tiếc nuối. Nhưng mình đã quyết thì chút mong manh này càng làm cho cuộc hỏa táng quá khứ thêm long trọng. Những con dế uống say trăng sương tiếng gáy ngọt no. Bọn này lúc đầu có chút giật mình ngạc nhiên khi ngọn lửa quá khứ chênh chao cất lời, giờ thì chúng chẳng thèm để ý, cứ rỉ rả ngợi ca vô tư ngợi ca sương trăng và hoan ca khúc yêu với người tình. Còn ngọn lửa cứ lặng lẽ làm cuộc hóa thân cho một miền quên, như thánh lễ. Cho tới tờ cuối cùng. Rượu cũng vừa hết. Sau lưng mình đã hừng đông. Sau lưng mình không còn cái bóng chập chờn của mình nữa. Mà là một ngày mới sắp bắt đầu”.

Sau này nhiều người nghi ngờ cái đêm hỏa táng quá khứ của gã là do gã cố phịa ra cho nó bi hùng. Người không tin nhưng khẳng định chính gã, nói ra cái đêm đó là gã tin, dù phịa cũng tin. Rằng cái đêm này cũng nằm trong một lập trình có sẵn để xây dựng một chân dung, một chiều kích khác thường chuẩn bị cho ngày đăng quang. Mọi lai lịch người chủ soái xưa nay đều có những khác thường. Nên có thật hay không có thật chuyện cái đêm hỏa táng quá khứ này, riêng gã tin là nó đã xảy ra. Cũng như khi đã có mọi quyền lực trong tay, gã luôn phiêu diêu trong giấc mơ sẽ viết một kiệt tác văn chương. Gã mô tả trong đó đương nhiên là phải có thiên đường và địa ngục, cao thượng và thấp hèn, nhất thời và vĩnh cửu, sống và chết, bóng tối và ánh sáng… tất tần tật những cặp phạm trù trái ngược nhau về nhân sinh về thế sự. Và gã khẳng định khi viết xong chắc chắn phải đi nằm viện ít nhất là ba tháng vì đã dốc hết toàn bộ tinh anh trí lực, tâm lực! Nhiều người bảo gã bị bệnh hoang tưởng hoặc vĩ cuồng, họ cười cười khi nghe gã nói còn sau lưng gã, họ giễu nhại lời gã nói. Nhưng gã thành thật tin điều mình nghĩ mình nói, tin như tin gã có sứ mệnh đứng trên muôn người. Ở khía cạnh này vợ gã tỉnh táo hơn. Mụ nhiều lần nhắc cho gã biết không phải vậy. Biết rằng địa vị hiện có của hai vợ chồng là do đâu, nhờ đâu. Và luôn cảnh giác, luôn biết cách giữ vững quyền lực. Gã hơi bực khi vợ dội gáo nước lạnh nhưng nghiệm lại thấy mụ có lý. Lạy trời, may hồn cha con, con bị con quỷ cái này nắm đầu nhưng nếu biết trước nó nhiều bùa phép thế này con cũng tự đâm đầu vào chứ không chờ nó nắm.

“Sau này nghe bà xã kể lại thì ra nàng cũng đã dậy liền ngay sau đó lặng lẽ theo mình ra sau vườn kín đáo quan sát. Và nàng nhanh chóng hiểu việc mình làm, nhanh chóng tán đồng lựa chọn mình từng trao đổi với nàng”.

 

3.

Sếp trưởng phòng ưa nói chuyện trong chiến tranh, thời ông cầm súng, thời gian lao anh dũng, hy sinh mất mát mà ông may mắn chỉ để lại chiến trường một cánh tay và nửa lá phổi. Ông kể chuyện ba không rồi ba khoan… sống động và tẻ nhạt. Tự câu chuyện với những tình tiết hấp dẫn chứ sếp vốn không có tài ăn nói. Không sao cả. Gã tiếp nhận rất nhanh, nhập cuộc rất nhanh. Và hễ có dịp ngồi cùng sếp là gã tròn đôi mắt nai hỏi chuyện trên núi, những “huyền tích” mà thế hệ bọn em chỉ có háo hức nghe kể! Là sếp miên man ngoái về quá khứ hào hùng. Càng lúc sếp càng hài lòng cậu em tuy có học nhưng rất cầu thị vì trình độ chính trị còn xa mới kịp mình. Đi đâu sếp cũng dắt cậu “lính ruột” đi theo. Gặp gỡ, giao tiếp bát ngát. Lại thêm cậu em có chữ, mỗi tổng kết các báo cáo phòng, cậu ta chấp bút văn vẻ lắm, lại rất cầu thị, nhờ anh đọc chỉ bảo em sẽ làm lại cho hoàn thiện, chỉ cần đọc nhắc nhở đôi điều, góp ý đôi điều, cậu ấy sửa chữa là xong. Lại được cái, trước cậu em này hút thuốc Vàm Cỏ, thấy mình hút Đà Lạt cũng hút theo, cậu em thích uống cà phê sữa thấy mình ưa đen cậu ấy cũng đổi gu “cho có anh có em”. Anh em như bóng với hình, có miếng ăn ngon người bà con ở quê lên cho, vợ cậu ta cũng đạp xe te tái chạy qua chia cho bà xã mình một nửa. Mấy lần chơi gặp sếp giám đốc hình như ông này cũng thích cậu ta. Sếp giám đốc mê văn chương, cậu em lại là người cầm bút cũng có ít nhiều bạn văn, bạn đọc nên ông nhanh chóng trân quý.

Nhưng sao cậu ta giỏi dang thế mà việc gì cứ phải làm theo mình, mấy cái thói quen rượu thuốc thôi mà? Có vẻ như cậu ta khiêm tốn quá mức cần thiết. Ừ thì cậu ta dễ thương, biết trước sau, lớn nhỏ, nhưng có gì đó rất khó nói thật tường minh về con người này… Thôi kệ cậu ta, mình tin rằng cậu ta còn đi xa, tiền đồ rất sáng.

Gã cũng phần nào thấy lạ dù đã có chủ ý. Chẳng biết thế quái nào mà sếp trưởng phòng nói hơi cà lăm một chút, lúc đầu về nhà gã có diễn tả vui cho vợ nghe rồi ngay lập tức gã cũng cà theo sếp. Gã vốn ăn nói lưu loát, tự nhiên thành thằng cà. Bọn ganh ghét có thể chê bai gã thói thuốc rượu theo sếp nhưng chuyện cà bảo gã cố ý là oan, oan lắm. Gã than. Vợ gã động viên:

– Anh sao tiểu tiết vụn vặt phát ngán. Đã xác định rồi mà, anh giống sếp thậm chí đi bằng đôi chân của sếp cũng được có sao đâu? Miễn tới đích!

– Đã đành là vậy nhưng cũng từ từ chứ. Bọn nó cứ ngó mặt mình cười cười thấy xốn, thịt da chớ gỗ đá gì. Gã phân trần.

– Rồi quen thôi mà. Em ở cơ quan Tuyên giáo cũng vậy, anh biết rồi. Mình có bản lĩnh sống đúng theo lựa chọn của mình, khối kẻ muốn mà không dám nên cứ chõ mỏ vào người khác, kệ chúng… Từ từ rồi cho chúng biết tay chưa muộn. Tối nay ghé thầy Ba chơi, cũng lâu chưa lại ổng? Mụ rủ.

– Ừ, sao mỗi lần gặp thầy Ba là anh thấy yên tâm liền.

Tối hôm đó vợ chồng gã lại nhà thầy Ba. Ông này tu mật tông, gầy đét mà có tới ba vợ, tất nhiên không ở chung một nhà. Tiền ông thầy kiếm được cũng chia đều. Mọi thứ hòa thuận, vui vẻ. Sau khi chăm chú quan sát gã, nắm tay gã coi một cách cẩn thận, thầy Ba hơi nhíu mày rồi nói như nói với thinh không:

– Anh đang trên đường. Còn dài. Được nhiều mất cũng nhiều. Rất lạ là hình như có ai cùng đi với anh sao nó nhập nhòa vào nhau tôi nhìn chưa ra nhưng đúng là có người cùng đi, người sau sang quý hơn người trước.

Gã đưa mắt kín đáo nhìn vợ. Mụ thoáng rùng mình.

– Vậy thưa thầy, được là được gì còn mất là mất gì?

– Quyền lực, tiền tài, danh vọng. Nói chung ba thứ con người ai cũng thích là quyền, danh, lợi anh có đủ cả. Còn mất tôi không thể nhìn thấy nó là cái gì nhưng cũng là mất đáng kể.

– Vậy phải làm sao để hạn chế cái mất, nhờ thầy chỉ dùm. Nghe âm sắc giọng nói gã run run.

– Không có cách nào cả trừ phi không đi nữa trên con đường anh đang đi, con đường mà tôi đã nhìn thấy có những người sang quý cùng đi nhập nhòa với anh. Mọi thứ ở đó. Được cũng ở đó và mất cũng ở đó.

Hôm sau gã chính thức có quyết định phó phòng. Bắt đầu con đường hoạn lộ. Gã không tốn mấy công sức luyện cung cách, đã có sẵn trong gã, từ sếp. Gã đi đứng, trò chuyện với nhân viên như sếp trò chuyện với thuộc cấp. Gã lên phó phòng là chuẩn bị cho mấy tháng nữa sếp trưởng phòng về hưu.

Mấy tháng nữa rồi cũng tới. Gã thay trưởng phòng. Giờ làm việc trực tiếp với sếp cả, giám đốc. Gã thấy mọi thứ rất thuận lợi. Nếu như trước đây nói hùa chuyện chiến tranh hơi khó thì bây giờ nói chuyện văn chương với sếp giám đốc thuận hơn nhiều: ông này vốn mê văn chương, không chỉ mê, ông còn làm thơ, viết kịch. Tức là cùng giới. Quan hệ cơ quan là quan lính nhưng quan hệ sáng tác là bạn văn. Ôi dễ chịu quá!

Mấy cái chuyện ăn, uống, hút là quá bình thường, ai cũng vận dụng được. Riêng món này sang hơn nhiều mà gần như là độc quyền của gã: thuộc thơ sếp. Rượu bia ngà ngà mà quanh sếp thường có mấy người đẹp, đã nói sếp rất văn nghệ, không có mặt hoa da phấn thì có mà văng củ nghệ, là gã trổ tài đọc mấy bài thơ tình của sếp. Các em trầm trồ, sếp thì vui lắm. Một trong những yếu huyệt của sếp là rất quý anh em văn nghệ sĩ và rất mê người có tài lĩnh vực này. Gã đã sắm trọn vai diễn mới. Sếp giám đốc mê đến nỗi ông giới thiệu gã cho sếp tỉnh. Trong những lần làm việc, tiếp khách.

Rồi chuyện quan trọng đã đến: gã được giới thiệu viết diễn văn cho sếp tỉnh, mấy cái kỷ niệm gì đó, văn hóa có, ngày cách mạng có. Nhiều, rất nhiều diễn văn gã viết. Mấy sếp ít chữ gặp kiểu tung hứng loạt loạt các cặp phàm trù, các cặp khái niệm khua rổn rảng là ưng ngay, khen ngay, đọc thấy sang ngay. Và con đường của gã cứ mở ra êm như nhung, thẳng tắp. Gã lại rất giỏi ngụy trang, vai gã ưa sắm nhất là vai một thuộc cấp có tài, mẫn cán với công việc và yên phận, không bon chen. Nhưng khi ngồi với các sếp, không lần nào gã không khéo léo mở máy nói mấy lời rất thân tình, có khi bỗ bã với ai đó, trong câu chuyện có nhắc đang ngồi với anh Năm anh Bảy… Hỏi hoặc không hỏi gã cũng tự khai, anh Khuông Dự, thiếu tướng công an, nhà thơ hoặc anh Trần Hòa, nhạc sĩ bộ trưởng, anh Kính Cung nhà văn, phó Ban Tư tưởng văn hóa trung ương, vân vân. Nhiều lắm chức sắc hàng to đùng li ri trong di động, cũng cái điện thoại anh Ba anh Bảy gì đó cho, đụng đâu gã cũng khoe. Cũng như chuyện đi công tác Hà Nội được ngủ chung khách sạn với sếp tỉnh gã khoe đúng một tháng! Phòng khách nhà gã treo đầy các bức ảnh chụp chung với các sếp tỉnh, sếp các ban ngành liên quan trung ương. Gã nổi bật vì lùn tè. Mấy tấm ảnh thỉnh thoảng thế chỗ dần: ảnh sếp giám đốc đã gỡ cất khi ông này nghỉ hưu. Ảnh khó thay nhất là ảnh gã chụp với Thủ tướng kỳ đại hội ngành truyền thông mới rồi. Rất lạ là nếu ai chăm chú quan sát, mấy tấm ảnh cũng cất tiếng nói. Tiếng nói li ri như phát từ điện thoại người khác.

Một lần nhậu xìn xìn gã bất ngờ buông một câu đầy bí hiểm: “Ở cái đất này, làm văn phải có võ!”

Cho tới ngày gã được cất nhắc lên phó, rồi trưởng cơ quan quản lý truyền thông. Nhanh kỳ dị. Bọn quan chức chung quanh cứ tròn mắt nhìn đà thăng tiến không tưởng của gã, không thể lý giải được vì không phải lý lịch đỏ lói, cũng không phải tài năng gì đặc biệt, vả lại thời này, chuyện tài không quyết định sự thăng tiến.

 

4.

Khu vườn hoang hỏa táng quá khứ xưa giờ là ngôi nhà ba tầng khang trang. Sân trước là vùng cây cảnh, cây cổ thụ hồ cá, và tường cổng bề thế kín đáo. Gã đang tận hưởng cảm giác hài lòng khi đã có tất cả. Sếp tổng quản truyền thông, giờ mình đã là sếp thực sự, một sếp to chức to quyền, gã xoa cái bụng ngắn đang trương to, hài lòng. Thầy Ba giỏi thật, nói trúng phóc, lâu nay cũng chưa lại thăm ổng. Cũng ngài ngại cái chuyện mất gì đó ổng nói không rõ ràng. Để xem thử…

Gã và vợ đã có quyền tiền danh. Mụ vợ gã cũng đang lên như diều gặp gió với chiêu thẽ thọt bằng gương mặt đổi sắc thái liên tục như sáng ngày khác trưa ngày, chiều ngày. Khi ngoan hiền một con bé nhà quê giả lả, khi trồi từng nốt sần trên mặt sầm sập khủng bố, mắt quắc lên giận dữ ai dại mồm dại miệng nói điều mụ không vừa ý. Cũng mắt này khi cần nhanh chóng rỏ mấy giọt hờn giọt tủi hay giọt khổ nhục kế, bi lụy kế. Ơ-rê-ca! Song chước hợp giao! Giờ xây dựng mấy đứa con thần đồng nữa là có đỉnh Olimpia.

Đã có mấy người ngợi ca tài năng thằng Tinh thằng Tú. Gã nhà thơ Kỳ Nhông nhắc đi nhắc lại với đại diện nhà xuất bản sách trẻ con rằng Tinh, Tú là những tài năng lớn cần quan tâm. Trừ hao bớt phần xu nịnh của nhà thơ này, con mình, gã nghĩ, con nhà tông cũng giống lông cái gì đó chớ. Vậy là xây dựng mô hình bố mẹ tài năng lớn đẻ ra thần đồng. Thần đồng Tinh Tú qua mấy phù phép, bùa chú của vợ chồng gã đã có tên, có tác phẩm trên một số báo, đã in sách và có giải thưởng một cuộc thi thơ do gã tổ chức. Bọn thối mồm bảo con thi bố chấm mặc chúng, cuộc thi văn chương cấp nào không có điều tiếng? Mọi thứ khá hoàn hảo, không phải cầu được ước thấy như dân gian thường chúc nhau mà, muốn là được! Ô kê thời nhập nhằng các giá trị!

Mỗi lần đi công tác thuận đường gã thường ghé về quê, cái làng quê núi nghèo heo nghèo hút, bao giờ gã cũng được địa phương đón tiếp trọng thị. Cha gã bao giờ cũng được mời ghế danh dự mỗi khi ở quê có họp hành gì, ghế danh dự là ghế dành cho gia đình thành đạt. Gã đã làm rạng rỡ tông môn.

 

5.

– Hôm qua em mới làm văn bản đình chỉ phát hành cuốn sách về cuộc khởi nghĩa của các hiệp sĩ Tân San. Thằng tác giả trẻ Định Thành này tuy viết tốt nhưng rõ ràng đang lấn sân vô lãnh địa độc quyền của vợ chồng mình. Lịch sử thiếu gì cái để viết sao nhăm nhăm vào Tân San hiệp khách của chúng ta? Nếu không stop nó lại e không còn ai đọc chúng ta nữa.

– Họ cũng nghe à? Em chặn thằng Định Thành với lý do gì?

– Về một vài hư cấu trong cuốn sách. Lãnh đạo đâu rành mấy chuyện này, em giải thích rằng viết vậy là xúc phạm anh hùng dân tộc, là xúc phạm lòng kính ngưỡng của nhân dân đối với những anh hùng họ lập điện thờ từ lâu trên đất này. Tất nhiên là văn bản do Ủy ban nhân dân tỉnh ký, không ai biết việc này em làm.

– Tốt, tốt. Hôm qua anh cũng bịt miệng một thằng. Thằng này phải chết.

– Nó tội gì?

– Tài.

– Anh bảo nó sẽ chết?

– Ừ. Con người có miệng để ăn và nói. Nó chỉ được ăn, cấm nói. Mấy ngày là chết thôi. Nghề của nó là viết rồi truyền bá văn chương văn hóa mà, anh quản truyền thông bắt nó á khẩu coi như xong đời.

– Bọn lâu nay bị anh bịt miệng nói có kêu ca gì không?

– Nhiều chứ. Nhưng anh học được từ các sếp là giả đui giả điếc. Nó kêu mỏi thì ngừng. Chửi cũng không chết ai. Ông Nam Cao thánh thật. Chí Phèo của ổng chửi cả trời cả đất, chửi cả làng Vũ Đại, chửi cả cái người đẻ ra hắn, rồi có chết ai ở làng đó đâu?

– Hôm trước anh cho thằng đệ báo Văn bao nhiêu?

– Vài đồng thôi mà. Nó ngại, anh ép mới dám nhận. Để hôm nào in lại nó cái gì, coi như lại hỏa.

– Cái bài nó viết về anh được đó nhưng giật tít “không thẹn với tiền nhân” lộ quá!

– Cái tít của anh đấy.

– A… ừ, anh đúng! Có lẽ em chưa theo kịp tình hình. Hôm trước anh mạ lị một lão gàn mà bọn ganh ghét anh tôn vinh là tiền bối, nhà nghiên cứu gì gì đó, em ủng hộ ngay. Bọn nào ngáng đường chúng ta hoặc nói điều bất lợi thì dọn không thương tiếc. Tiền bối thì sao nào, do đây là tiền nhân em hơi giật mình, nhưng anh đúng.

– Ngủ thôi, mai còn đi píc níc với hai thằng nhóc. Sau này mọi người trong giới cũng gọi chúng ta là tiền nhân thôi mà.

 

6.

Đây là phế tích của thành Hoàng Đế. Mấy bờ tường thành đá ong lở lói. Khu lăng mộ Võ Tánh, nhà bát giác triều Nguyễn dựng để thờ vị trung thần này. Cung Quyển Bồng có hồ nước hình bán nguyệt. Và nền cũ. Vài bóng cây cổ thụ. Với ngui ngút thời gian hưng phế. Nhiều lần gã chở vợ lên đây hoài tưởng về thời ngựa xe lầu vàng gác tía nhưng đây là lần đầu hai hoàng tử Tinh Tú về Đất Vua. Chúng khoái chí trèo lên hai con voi đá điêu khắc Chăm trước cổng chụp hình. Nhiều người dân chung quanh tái mặt vì sự ngổ ngáo của hai thằng nhỏ có vẻ thị thành. Dân rất ngại động chạm quá quắt đến đồ Chàm. Gã nghĩ mọi vương triều đều tồn tại, hưng vong theo cái lẽ tự nhiên. Có gì mà phải ồn lên. Sự thành đạt đã giúp gã tự tin hơn nhiều, tự tin và những phát biểu, nhận xét về mọi thứ  của gã giờ nhiều tính phán truyền.

Hai cậu ấm nghịch voi đá ớn rồi vào khu Tử cấm thành cùng cha mẹ. Gã bày biện mấy thứ trên hòn giả sơn dưới tán cổ thụ. Tinh Tú lại thay nhau chụp hình, cái Canon 11 chấm và thẻ nhớ đến hơn ngàn ảnh tha hồ cho chúng trổ tài. Rồi hai thằng quay sang chụp hình ba mẹ chúng đang ngồi quanh mấy thứ dã ngoại ba lô lương khô, giấy báo, tấm ni lon. Rồi chọn góc hình canh máy bảo ba mẹ cùng chụp chung bốn người. Rồi dàn dựng ngộ nghĩnh. Bày thức ăn lại chụp. Cụng lon, chụp. Chắc hẳn sẽ là một chuyến píc níc bổ ích cho hai phó nháy, cho điềm đạm vua và hậu nơi mấy thuở vàng son và tro bụi. Ừ, họ đã đoạt vương quyền bằng gươm và mệnh. Còn ta thâu trăm họ về tay bằng một thứ siêu võ công: mượn bóng dựng hình! Nghiệm ra tới giờ, từ bóng trưởng phòng kể chuyện chiến tranh trở đi gã cũng không nhớ mình đã mượn bao nhiêu bóng, trộm bao nhiêu bóng.

– Ủa, sao vầy ta? Thằng Tú la lên. Nó đang nằm vắt chân chữ ngũ trên đồi cỏ, bật máy coi lại các hình vừa chụp. Càng lúc vẻ mặt nó càng kinh ngạc.

Thằng Tinh đang loanh quanh kiếm mấy mảnh đá vôi thời gian chà xát có hình lạ vội lại xem thử chuyện gì. Mặt nó dần tái đi. Nó bảo thằng Tú lại ngồi cùng ba mẹ, nó lùi ra lấy bố cục rồi bấm. Và bật coi hình. Tay nó run, mồm nó há hốc kinh hoảng. Trừ hai anh em nó, tất cả các ảnh chụp chung, không tấm nào có ba nó cả. Mẹ nó thì đều có nhưng gương mặt liên tục biến dạng, lúc nanh nọc, khi hung hiểm lồ lộ, lại cười cười hồn nhiên thiên thần, lại ủ dột muộn phiền, sợ nhất là một bộ mặt đúng là mẹ nó nhưng không thể định dạng, không biết khi in ra thì sao chứ trong máy cứ liên tục đổi màu đổi nét.

Nghe hai đứa nhỏ lắp bắp trình bày và nhìn vào mấy kiểu ảnh, gã tái người nhớ tới lời thầy Ba. Gã ngó vợ. Mụ cũng đang run bắn cả người ngó mặt mình trong ảnh.

 

7.

Nàng đi, khuôn mặt trái xoan yêu kiều sáng như trăng đẫm nước mắt, nàng cứ để mặc nó tuôn, mấy món tóc gió ném chéo qua bết nước mắt cứ vương tùy tiện trên mặt. Tóc cũng ướt đầm trên mặt ướt đầm, nàng đi vì biết hết rồi, người nàng yêu đã nói lời an ủi, lúng búng lời xin lỗi. Anh ta đã chọn cô gái mới về cơ quan và chúc nàng nhanh quên cuộc tình với anh ta, nhanh chóng tìm được người đàn ông khác cho mình. Nàng đi, có thể ngã sấp xuống chết nàng cũng đi, anh ta quá biết nàng nên chỉ cần nói rằng có người đàn bà khác là nhanh chóng được giải thoát… Khi nàng đã đi khuất, hình như anh ta gục khóc.

Gã nhớ lại cuộc chia tay rất xa. Cả sau này nhiều lần gặp lại cậu em nàng cũng công tác cùng ngành ở tỉnh kề, gã làm lơ như chưa hề quen dù đã nhiều lần gã đến nhà nàng, cùng cậu em đi soi cá về nhậu suốt đêm và cha mẹ nàng hiền lương chất phác nhanh chóng yêu mến và coi gã như con trong nhà.

Lâu lắm rồi chẳng biết ai nói rằng sau đó nàng lấy một cán bộ ngành bưu điện ở huyện nhà, cũng ổn. Cũng lâu lắm rồi bỗng nhiên cái ngày xưa ấy hiện về. Ngày xưa của gã hăm hở và ít toan tính, lấm láp và lương thiện. Và những vần thơ thuở hoa niên gã đốt. Tàn thơ cong xám xác rồi gió cuốn nhưng đâu đó trong tiềm thức mớ ngủ giữa thực trạng và quá khứ, vị lai, có những cuộc lưu giữ hoặc phôi phai nằm ngoài mọi toan tính hay trù liệu, nó, cái vùng không thể kiểm soát đó bỗng nhất loạt ùa về ngân nga.

Vì sao ngay lúc này chút ngày xưa ấy vọng về? Gã ngồi trước ti vi nghe câu quan họ cổ, bóng tôi mà tôi ngỡ bóng ai…, cái bóng gã đâu rồi, cũng lâu lắm gã không để ý. Ừ, mỗi người chỉ hắt sang bên một cái bóng, dù đậm nhạt, dài ngắn. Có cái bóng oan khiên của chàng Trương ngày trở về. Người chinh phu đã trở về mà người con gái Nam Xương phải gieo khối oan tình xuống sông. Dẫu oan khiên thì cũng là cái bóng. Cả Chí Phèo nữa. Có còn là thằng người không khi chỉ rạch mặt ăn vạ và say khướt rồi chửi. Hình như vẫn còn. Cái đêm trăng uống say, anh ta khật khưỡng đi, vừa đi vừa đạp cái bóng nhàu nhĩ của mình trên đường. Chí vẫn còn cái bóng dù te tua… Ngày mai phải đến thầy Ba nhờ thầy gỡ dùm những cái bóng nhập nhòa song hành. Đã tới đích rồi thôi trả lại cho các vị… Mụ vợ có vẻ hoảng loạn, ngày mai nhờ thầy giúp chắc cũng ổn, thôi hãy để cô ta ngủ, chẳng biết thấy gì mà cứ ú ớ mê sảng. Gã mở tủ, mở mấy cái hộp. Vẫn còn y những hạt lóng lánh, những thanh chữ nhật nặng trĩu mát lạnh. Và đây những xấp tiền giấy. Gã ngắt một mớ, mai tạ thật hậu hĩ mong thầy Ba khó mấy cũng ráng giúp gỡ dùm mấy cái bóng kia, ổng thuộc diện cao tay ấn. Vả lại bây giờ gã muốn trùm bóng chứ không phải mượn bóng, dù là cái bóng sang quý nào.

– Nhờ thầy xem hộ mấy cái bóng người cùng đi với tôi lần trước thầy nói đó, họ có quấy tôi không? Sao tôi có tâm trạng rất bất an. Gã đặt mấy tờ bạc lên cái đĩa để sẵn trên bàn thờ.

Thầy ba chăm chú nhìn gã, nét mặt thầy khi tập trung lúc lơ mơ. Rồi sau một thoáng lạc thần, thầy có vẻ hơi hoảng. Gã hầu như nín thở vì căng thẳng. Mụ nhìn chằm chằm vào mặt thầy chờ một nét rãn ra nhẹ nhõm, mụ biết thầy không bao giờ nói lấy có, nói cốt vui lòng thân chủ.

– Lạ thật. Thầy nói như nói với chính mình. Không có nét rãn ra nào cả. Lạ thật…

– Dạ…?

– Không có gì cả. Không còn họ mà cũng không có anh!

– Thưa… thầy xem kỹ dùm…, mụ lắp bắp chen vào lúc gã mặt xám xịt, tối tái, không có gì ạ?

Mụ vội lục ví lấy nắm tiền nữa đặt tiếp lên cái đĩa, mấy tờ tiền xộc xệch động cựa chắc là do gió quạt. Một tờ rơi xuống bàn trước mặt ba người. Tờ một trăm đô la âm phủ! Gã dựng tóc gáy. Sợi lạnh chạy từ đỉnh đầu chạy xuống sống lưng rồi lại chạy lên. Tóc gã cứ dựng từng chặp như đang làm xiếc. Mụ chạy vội lại cầm nắm tiền trên đĩa coi thử, tất cả đều là những tờ tiền cõi âm. Những tờ tiền tuột khỏi tay mụ rơi xồ xuống bàn. Thầy Ba cũng tái mặt. Căn phòng lạnh như âm ti.

– Không thể nào… Không thể…

Gã lẩm bẩm và đứng dậy đi ra.

Ngoài trời đang rực rỡ nắng cuối xuân. Nhà thầy Ba ở sát chân núi Bà Hỏa, vùng Nghĩa địa Tàu. Địa cuộc người Ba Tàu chọn làm nơi cư ngụ của người chết, chỉ thầy Ba mới dám tới đây sống. Con đường nhỏ quanh quanh qua những ngôi cổ mộ, rực sắc hoa vô ưu tím, trắng . Gã đi như mộng du, phía sau là mụ vợ lạch bạch cố gắng nối gót. Lạ lùng, mụ nghĩ, sao ảnh đi nhanh vậy không biết, thấy chân bước thong thả như vãn cảnh mà mình chạy gằn mới theo kịp? Mụ theo kịp cũng là vừa tới đường lớn, như về với thế giới con người. Không ai bảo ai, cả hai cùng quay lại nhìn vùng mộ cổ, phía xa kia vẫn đó, ngôi nhà ngói vách ván của thầy Ba, chứ không phải mộng mị. Ngôi nhà lạnh như âm ti vì mớ tiền đô âm phủ của gã. Nắng đổ bóng xuống đường, nắng vàng rực động cựa cái bóng sứt sẹo của mụ, còn gã thì không. Không có cái bóng của sếp tổng quản!

***

Phụ lục: Truyện ngắn tới đây là kết thúc. Chưa kịp công bố thì mới đây báo chí đưa tin có cuộc hội thảo khoa học về người mất bóng. Cuộc hội thảo quy tụ các nhà khoa học hàng đầu thế giới về vật lý, hóa học, điện sinh học, nhân điện, cả các chuyên gia về tâm thần… Nghe nói trước đó họ cử một số thám tử sắm vai người mến mộ tài năng văn chương của sếp tổng quản, gặp gỡ xin làm phim, viết bài. Và đã quay phim, chụp hình, trong phòng rồi ngoài trời. Các dữ liệu đã được trình bày ở cuộc hội thảo. Nhiều kiến giải tài ba. Nhiều phản biện uyên bác. Nói chung cuộc hội thảo tạm thời đi đến kết luận hiện tượng người mất bóng chỉ xuất hiện ở một môi trường đặc biệt, một bối cảnh đặc biệt. Cả thế giới hiện nay chỉ ghi nhận được trường hợp duy nhất ở Việt Nam này.

 

Suối Trầu, tháng 7/2010

 

 

THÁNG CHẠP CÓ NGÀY BA MỐT

 

Biết là vô vọng, tôi không thể không chờ. Đêm ba mươi không thể là đêm cuối của tháng chạp. Tôi sẵn sàng tin rằng tháng chạp có thêm một ngày đêm nữa. Một ngày đêm để rồi cuối cùng nàng sẽ tới, nàng của đời tôi đã từng yêu, dù là thiên thần hay ác quỷ. Tôi đã hằng tin. Niềm tin là cuộc sống của tôi.

Người khác sẽ nhận xét về nhan sắc nàng theo cách của họ. Nhưng với tôi, nàng là người phụ nữ đẹp nhất trần gian. Bởi vì, như cách nói ví von của ai đó, trong khô khát mùa hạ tôi, nàng là cơn mưa rào, cơn mưa rào kịp lúc mát trong, cơn mưa rào ám ảnh, định mệnh. Đó là lúc tôi kiệt sức vì đói lả, nằm chờ chết bên bờ sông, con sông lớn nhất tôi từng biết đã không còn một giọt nước. Vì đâu con sông này lúc ấy hết nước tôi không biết, nó dốc sạch ra biển rồi chăng? Nhưng biển ở đâu? Sau này tôi không gặp lại con sông ấy nữa. Con sông đã chết vĩnh viễn. Nhưng biển thì còn. Nàng đã chỉ cho tôi thấy nhưng không cho tôi chạm tay vào. Chắc là nếu tôi làm vậy biển sẽ vỡ vụn chăng?

Nhưng trước đó thì có một sự kiện kinh hoàng xảy ra cả tôi và nàng một thời gian dài sau này không thể lý giải được, đó là một bọn người tới phóng hoả thiêu rụi cánh đồng, làng mạc đang tồn tại vừa yên bình vừa tẻ nhạt của tôi. Họ có một ngàn lý do, một ngàn nhân danh để làm điều ấy, trước và sau việc làm này của họ, lịch sử cũng đã từng hoặc rồi sẽ có một ngàn lý do, một ngàn nhân danh cho mọi hành vi huỷ diệt. Cánh đồng đã bị thiêu rụi. Ba tôi sửng sờ: dù đã ngàn lần kiên trì gieo trồng cùng với ngàn lần mơ ước hy vọng, chưa bao giờ ông đối diện với tình huống cánh đồng thực sự không còn nữa. Nhà cháy rồi sẽ làm lại. Mất mùa vì thời tiết vì sâu bọ vì những tính toán sai lầm rồi còn cơ hội cho mùa sau. Nhưng cánh đồng đã biến mất sau cuộc phóng hoả của bọn người nhiều nhân danh. Lần đầu tiên tôi thấy ba tôi mất phương hướng. Ngoài đức tính trung thực, ông luôn dạy chúng tôi về lòng kiên trì, ý chí. Tôi quan sát thử khi đối diện với tình huống này ông hành xử ra sao? Ông cứ há hốc mồm kinh ngạc nhiều ngày rồi dắt vợ con ra đi. Không có cánh đồng nào cho ông dừng chân. Tất cả đã bị thiêu rụi. Trên đường đúng một ngàn lần hỏi thăm khi tới vùng đất mới ông đều nghe câu trả lời rằng cánh đồng đã chết. Nơi đâu cũng có bọn người tham lam hung ác nhiều nhân danh này. Ba tôi là người của cánh đồng, ông, sau khi thể hiện đúng ý chí và lòng kiên trì vốn có qua một ngàn cánh đồng mất tích, kiệt sức rồi qua đời. Mẹ tôi cũng vậy. Xác họ lập tức bốc cháy và tan vào ngọn lửa đang ngùn ngụt dâng cao ba bề bốn bên. Tôi thì không. Trong danh sách của cánh đồng chưa kịp có tên tôi. Tôi không bị đốt. Cho tới giờ tôi cũng không biết sự thoát nạn này của mình là may hay rủi. Những kẻ phóng hoả mặt mày hung ác cũng thoáng chút ngạc nhiên rồi đi tìm những thứ chúng cần. Chúng phải cần một thứ nào đó cho công việc đang làm, chắc chắn thế. Chúng đi. Bỏ mặc tôi tồn tại với chính ý chí và lòng kiên trì mà ba tôi đã dạy, những yếu tố quyết định sự tồn tại nhưng tiếc rằng ông có tên trong danh sách, nhiều người thân khác của tôi cũng vậy, nhiều làng mạc khác cũng vậy. Sau này khi gặp những người cùng thoát nạn như mình tôi mới biết chúng tôi không có tên trong danh sách không phải từ sơ xuất hay may mắn nào mà từ việc nhìn thấy trong gương mặt kẻ phóng hoả có nhiều nét quen biết chung quanh.

Nàng từ bọn phóng hoả bước ra. Nàng là chúng. Và không phải là chúng. Đã vài lần trong ngọn lửa tôi nhìn thấy nàng. Có thể đó chỉ là một tiên cảm kỳ lạ nhưng đúng là thế. Biết làm sao được, tôi không thể mô tả nhan sắc nàng. Như không thể mô tả hư ảo. Nhưng nàng là hiện hữu. Có lần tôi hỏi bọn phóng hoả từ đâu tới, nàng bảo từ cánh đồng. Vậy bây giờ chúng đi đâu khi tất cả các cánh đồng đã bị thiêu rụi? Nhưng đây không phải là câu hỏi và tôi không có câu trả lời. Sẽ không có câu trả lời vì nàng đã bỏ đi.

Đã mười một giờ đêm ba mươi. Thường thì nếu tới nàng đã tới rồi. Trong cái tổ của mình, như mọi năm tôi cũng chuẩn bị rượu bánh hoa quả. Hoa là một liệu pháp ve vuốt tâm hồn, có lần nàng nói thế. Khi cùng dạo chợ hoa. Nàng chỉ tôn trọng thói đồng bóng của tôi chớ không thấy hay thấy đẹp. Nếu hoa là đẹp thì trừ những thứ do con người làm ra, tất cả đều đẹp. Con người luôn tự cầm tù mình, nàng riết róng. Tôi khó bề bác bỏ lập luận này và cũng không muốn bác bỏ. Đêm sâu lắng lạ lùng ngoài kia, đêm cuối năm. Lại một năm nữa đang qua, một năm nữa đang tới. Những lúc cùng nàng trong tổ của mình thời khắc này tôi mới biết phát hiện thời gian của con người xuất phát từ thói kiêu ngạo và nỗi sợ hãi cố hữu. Người ta đúc kết xem đã làm được gì năm qua, hy vọng đợi chờ gì năm tới. Đúc kết và hy vọng không phải là bản chất sự sống. Con người luôn nhầm lẫn bởi luôn tạo ra các khái niệm. Càng rạch ròi càng nhầm lẫn. Nàng tôn trọng, thể tất cho tôi vì biết không thể khác.

Đã hơn mười một giờ đêm ba mươi, hơn nhiều, chắc thế. Tôi rót rượu và lắng nghe trong im ắng lạ thường mong nhận ra tiếng bước chân nàng. Nhưng chỉ là dửng dừng dưng chiếc đồng hồ tích tắc. Lại một thiết bị được chế tác để đếm thời gian. Vây quanh cuộc sống con người là cả một hệ thống kiểm soát thời gian hoàn hảo.

Rượu là một thực thể. Hồi đó nàng cúi xuống và bọn người phóng hoả bỏ đi. Trên cánh đồng bị thiêu rụi hay bên bờ sông chết nàng cũng cúi xuống đúng một cung cách ấy. Tôi lập tức nhận ra hương vị nàng. Sau này nhiều lần tôi nói với nàng đó là hương vị cuộc sống. Tôi tồn tại cùng hương vị này, lâng lâng như rượu, có khi say, rất say. Nàng cười bí ẩn. Hồi đó tôi đang rất hưng phấn vì những thành đạt những thuận lợi trong công việc dù không mấy gắng sức. Nghề của tôi là phân phối. Phân phối miếng ăn, phân phối quyền lực, cả những người có quyền lực cao nhất thành phố. Tất cả những người sống sót đều tập trung về thành phố. Tôi chỉ là một công chức nhỏ nhưng có quyền lực lớn. Thành phố tôi, vì điều kiện thực tế xã hội rất riêng nên cũng có cách cai trị theo kiểu riêng, được công bố trong những văn bản vĩ đại có tuổi thọ không cao. Nghĩa là nó sẽ thay đổi theo những diễn biến thực tế. Thực tế là người thầy vĩ đại, chúng tôi lý luận như thế và căn cứ vào người thầy vĩ đại đương nhiên là một cách cai trị sáng suốt. Chúng tôi loà xoà vui vẻ từ người cai trị đến người bị trị; sự hoà đồng này có nghĩa, ai ở vị trí nào cũng được nếu tôi ghi vào hồ sơ người đó chức vụ gì hay làm công dân. Công việc quá đơn giản. Chớ không phải ngày xưa trong sử sách, người cai trị phải được nuôi dạy chu đáo từ những bậc tài giỏi nhất hoặc trực tiếp làm nên những kỳ tích hoặc tự mình giành lấy quyền lực theo một cách nào đó. Tôi thấy mình tài giỏi hơn người khi được làm công việc quyết định vận mệnh bao người. Tôi, người sống sót sau khi cánh đồng và dòng sông bị huỷ diệt. Tôi được ngợi ca. Rất nhiều người từ nơi xa hay tin đã tìm đến chứng kiến và ngợi ca sự tồn tại kỳ diệu của tôi, sự thành đạt trong nghề phân phối. Thường thì nàng không có mặt những lúc này. Nàng lớn lao hơn mọi xu phụ, ngợi ca. Nàng chỉ đến khi chung quanh không còn bọn người lăng xăng tôn vinh tôi, vẫn nồng nhiệt và nụ cười bí ẩn. Có một điều lạ, thời kỳ này, mỗi lần chúng tôi yêu nhau thì hôm sau thành phố xuất hiện những dấu hiệu khác thường. Chẳng hạn khoa sản bệnh viện xôn xao mấy vụ quái thai. Chẳng hạn ống nước cấp cho thành phố vỡ, tràn ra trên đường toàn nước bùn. Bộ phim quen thuộc đang chiếu trên ti vi các nhân vật cứ hắt cái bóng sang bên mang hình quái đản như ma quỷ. Một bà mãn kinh đã mười năm tròn tuổi sáu mươi tự nhiên có chửa. Con khỉ nhà ông thị trưởng nói tiếng người chóc chóc… Lúc đầu tôi không để ý. Các bản tin trên tờ báo lá cải chuyên săn lùng chuyện giựt gân không làm tôi để ý. Nhưng cứ sau một đêm cuồng nhiệt lăn lóc cùng nàng, ông thị trưởng lại gọi điện, những lần đầu còn bình thường sau hớt hải vì mức độ kỳ lạ của thành phố. Hôm đó vừa làm tình tôi vừa nói với nàng, ngày mai thể nào cũng có lắm chuyện lạ. Nàng gật đầu tán thành trong hơi thở gấp đôi môi he hé nụ cười thoã mãn. Dường như nàng quá biết điều này. Dường như nàng thích thú nhìn thấy thành phố đang dần biến thành một vùng đất khác như trí tưởng tượng của những bộ phim viễn tưởng. Thỉnh thoảng đi trên đường chúng tôi gặp bầy khỉ vẫy tay hé lô háo a rơ dú? Con khỉ đầu đàn tôi nhận quen là của ông thị trưởng. Nó có vẻ thành thạo phố xá và giao tiếp. Lại cũng như trong phim hoạt hình, đôi khi chạy qua chúng tôi trên ô tô cười toe những bộ mặt không ra người không ra thú. Rậm rịt những biến đổi không theo một quy luật nào cả khắp thành phố. Tôi không biết những đột biến này có nguy hại gì không khi hàng ngày cuộc sống vẫn diễn ra, ngày đêm vẫn trôi qua. Và nàng vẫn đến với tôi những khi phù hợp vẫn nồng nàn cuồng nhiệt.

Cho tới một ngày thành phố xảy ra cơn hoả hoạn chưa từng có thiêu rụi công sức trăm năm của người và cận người, cuộc điều tra nhì nhằng mấy tháng sau mới có kết luận nguyên nhân là do trò nghịch của một con khỉ cứ tưởng nó đã thành người! Không hề có bọn người phóng hoả nhúng tay vào như thoạt đầu tôi nghĩ. Không có bọn người phóng hoả nhúng tay vào đồng nghĩa với việc tôi thất sủng. Hoàn toàn.

Những ngày này nàng thường tới. Chúng tôi đi đây đi đó cho khuây khoả. Lần đầu thấy biển tôi rất xúc động những muốn ào xuống, nàng ngăn lại, anh làm biển tan biến đấy! Tôi biết nàng không nói đùa. Trong tĩnh lặng vô ngần của đáy sâu đầy bất trắc kia phập phù những mời chào như thuật thôi miên. Những dòng sông dại khờ đã bị nuốt chửng. Nhưng biển cô đơn quá. Chính sự cô đơn làm biển vô cùng quyến rủ và khiến tôi nao lòng. May mà còn có nàng  bên cạnh. Sẽ một ngày tôi hiểu thực ra biển là gì. Một ngày nào đó, chắc chắn thế.

Nàng không tới. Cái đồng hồ rùng mình cảm lạnh rồi rúm ró nhưng vẫn một… một… một, đều đặn, đáng ghét. Tôi không thể làm gì khác hơn là tự nâng cốc một mình. Nàng thường cười giễu nhưng tôi vẫn cứ mừng tuổi cứ thiêng liêng một lần đầu năm gánh cái gánh trời trên vai phận người. Tôi đưa mắt nhìn những vật dụng trong nhà, giật mình nhận thấy có quá nhiều thứ đo đếm thời gian và lậng cậng một lúc vẫn chưa nhớ ra mình, tới đây, tới cái năm mới này là tôi bao nhiêu tuổi. Nhưng nàng đã không tới. Trên tất cả những vật dụng này đều có thể nhìn thấy nàng, lúc cúi xuống nhìn sững những bông hoa, lúc ngước nhìn những chữ số trên tờ lịch, và nàng ở kia, trên cái giường ngăn nắp hai chiếc gối của chúng tôi. Tôi đoan chắc rằng đâu đó trên giường còn vương những sợi tóc của nàng, mùi hương của nàng. Có lần, sau giờ phút mặn nồng, tôi vùi mặt vào tóc nàng hít mùi mồ hôi vừa rỉ nơi chân tóc mà rằng, anh không thể hình dung nổi mọi thứ sẽ ra sao nếu thiếu em trong đời. Nàng cười bảo sẽ có cánh đồng và dòng sông và tất cả những thứ khi nàng chưa đến. Lần đầu tiên tôi thấy nàng biết nói đùa.

Nàng không tới. Tôi chẳng còn cách nào khác hơn là tự rót rượu chúc tết mình. Ngày mai, ngày đầu năm, trẻ nhỏ sẽ khoe áo mới trong nắng hoe vàng, người người sẽ thăm viếng nhau, người sống và người chết. Nàng không tới nghĩa là không có ngày mai của tôi. Trừ phi, ngày mai chưa là mồng một. Nhưng hôm nay đã là ba mươi, tháng chạp không có ngày ba mốt. Không có ngày ba mốt. Không thể. Tôi không còn một cơ hội nào nữa cả. Nếu không có ngày ba mốt. Thật vô lý, tại sao tháng chạp không có ngày ba mốt? Ngày giờ là do con người sắp đặt chớ có phải tự nhiên đâu? Vậy tại sao tôi không có ngày ba mốt cho mình, ngày mà nàng sẽ tới? Nhưng sẽ là điên nếu bây giờ lại gỡ tờ lịch… Tôi mệt rũ trong những ý nghĩ căng thẳng quay cuồng và sà lại cái giường của chúng tôi. Hình như ngoài trời đã hừng đông.

Nhưng không phải hừng đông. Đó là ngọn lửa rừng rực từ xa của bọn người phóng hoả đang trở lại. Ngay vào giờ phút cuối cùng chuyển giao năm cũ đang qua năm mới đang lại, bọn người phóng hoả đã đốt rụi tất cả. Kim đồng hồ đang rừng rực cháy. Tờ lịch ghi ngày ba mươi co lại tàn tro màu xám. Thời gian sững sờ rồi bị hoả táng.

Có vẻ là tôi đã ngủ thiếp đi và chuyện bọn người phóng hoả huỷ diệt thời gian chỉ là một cơn ác mộng. Ánh nắng mặt trời đã rọi qua ô cửa. Ngoài kia chắc là bọn trẻ đang súng sính áo mới trên đường. Mọi người đang thăm viếng nhau, người sống và người chết. Tôi uể oải đưa mắt nhìn những vật chứng trên tường để yên tâm rằng nỗi sợ hãi của mình về bọn người phóng hoả chỉ là cơn ác mộng thì thật đáng kinh ngạc, kim đồng hồ đã chết cứng ở thời khắc trước giao thừa. Nó sạm đen, cong vênh một cách kỳ dị. Còn tờ lịch có ngày cuối năm, ngày ba mươi tết đã hoàn toàn biến mất, dưới nền nhà là tàn tro rơi lả tả. Tôi vùng dậy không tin vào mắt mình: blốc lịch đang có ngày ba mốt!

Phát hiện mới nhất này khiến tôi kinh hoàng: thì ra lâu nay tôi sống theo thói quen, rằng, tháng chạp chỉ có ngày ba mươi, rằng, chỉ có một biển một sông một trời một đất. Nụ cười bí ẩn của nàng đã được giải mã. Biển mà nàng không cho tôi chạm tay vào đã rất tường minh. Bọn người phóng hoả và nàng, tất cả thật đến không ngờ. Phải, tôi tỉnh hơn bao giờ hết. Nàng sẽ tới trong ngày hôm nay, ngày ba mốt của tháng chạp để nghe tôi nói rằng, vì sao tôi yêu nàng đến thế!…

 

Suối Trầu, 16 – 6 – 2006

 

 

ÁNH HỒI QUANG HIU HẮT

1.

Nàng thực sự lộng lẫy khi vừa mười lăm tuổi. Cả tài và sắc. Sắc thì có thể mỗi người có “gu” riêng để mê, để yêu. Nhưng tài, chắc rằng sự thừa nhận rất dễ chung. Tài được cộng đồng thừa nhận thì khó bài bác. Nàng là con gái của chánh ca Tầm. Ở cái đất hát bội này, chánh ca là tôn vinh lớn nhất. Đó là sự tôn vinh sòng phẳng vì không có bất kỳ thế lực nào chi phối. Phép vua thua lệ làng. Mọi tổng đốc, tuần phủ nơi khác đến Bình Định đều tuân thủ “lệ” hát Văn miếu hàng năm để tôn vinh tài năng hát bội ở địa bàn mình cai quản. Cái nôi hát bội, dân của hát bội muốn cai quản tốt không thể không tuân thủ lề luật này. Hát Văn miếu, quan ngồi cho có lệ để chứng kiến, người đề xuất các danh hiệu là những nghệ sĩ có tên tuổi được nhân dân thừa nhận. Sự thừa nhận khắc nghiệt bằng chính thực tài chứ không phải danh xưng hão. Vậy là các nghệ sĩ thực tài này sẽ “bỏ phiếu” cho các danh hiệu chánh, phó ca. Người cầm quyền cao nhất tỉnh chỉ “chuẩn y”. Mọi thứ đều hợp lòng dân. Thời ấy đơn giản lắm, chính xác và đàng hoàng lắm. Nhưng thôi, trở lại chuyện nàng.

Khi tôi kể những chuyện này, 2010, nàng đã tám mốt tuổi ta, nàng sinh năm Canh Ngọ, 1930. Bắt đầu theo cha đi hát từ năm lên mười, năm mười sáu tuổi ta, nàng đẹp rực rỡ và thực sự nổi tiếng. Nàng nổi tiếng vai kép, Lữ Bố trong “Lữ Bố hí Điêu Thuyền”. Vì nét mặt như hoa. Vì hát hay diễn giỏi. Sáu thứ cần cho một đào, kép giỏi thanh, sắc, thục, tinh, khí, thần nàng đều có cả. Vậy là nàng nổi tiếng. Ngay thời hát bội phải cạnh tranh với cuộc tấn công của cải lương. Các đoàn cải lương dựng rạp ngay trên đất hát bội mà tranh khách, tranh thành công. Lao đao vài năm, hát bội thích nghi bằng cách chế tác nhanh diễn các vở tiểu thuyết diễm tình và đòi lại được khách xem. Nhất là khi Bầu Sa cho dàn dựng vở “Đông Lộ Địch” của Ưng Bình Thúc Dạ Thị. Rạp Trung Hoa có thời bị cải lương ‘‘chiếm’’ giờ hát bội thành công vang dội khi cứ diễn đi diễn lại vở này cả nửa tháng trời vẫn còn người xem. Cuộc giằng co lúc thiên bên này lúc ngả bên kia, cải lương và hát bội bất phân thắng bại. Thời điểm này nàng bí mật vào tận Sài Gòn, tới rạp lặng lẽ xem nghệ sĩ Phùng Há diễn cải lương cũng vai Lữ Bố và cách diễn của nàng sau đó đã có chút pha trộn tinh túy cải lương, thành càng độc đáo.

Một thế hệ tài năng mới đã vẽ mặt đeo râu làm nức lòng người xem.

Nhưng cách diễn hát mới gặp sự phản kháng quyết liệt của lớp trước. Nàng chứng kiến cuộc đấu khẩu nảy lửa của ông Mười Thanh, một danh ca bậc cha chú, dòng đích truyền từ Học Bộ Đình của ông Tổ Đào Tấn với Trần Long, Hoàng Canh… ‘‘Bọn mày hát kiểu đó đúng là đồ khi sư diệt tổ’’. Trần Long chỉ cười hì hì, thưa rất lễ phép rằng, chú cho bọn con sống với chớ, bây giờ khác, diễn cái nỗi đau như chú dài mất ba tháng, hì hì, dân nó về mất… Vừa nói anh vừa diễn, nhập hồn và quyết liệt, chữ ‘‘đau’’ của câu hát với cách diễn cũ, rợn người, xuất hóa cùng nỗi đau buộc lòng phải cách tân để tồn tại. Ông Mười Thanh trợn ngược râu, mắt ngồi lặng. Rồi phủi đít bỏ đi, lẩm bẩm ‘‘bọn bay bá đạo’’, đôi vai run run, rũ xìu… Nàng thấy thương ông nhưng nàng biết mình và các anh không thể làm khác.

Sau này nhiều lần mời ông Mười Thanh hát trường, ông thẳng thừng từ chối. Ông lặng lẽ kiếm sống bằng cách gánh mắm cho vợ bán dạo. Thỉnh thoảng nhớ nghề, bán đủ tiền cho ngày, có người yêu cầu, hứng lên là hát diễn vài đọan. Mấy lần chứng kiến cảnh đó nàng đều rớt nước mắt.

Nhưng công chúng mới là người quyết định, họ đã ủng hộ và thừa nhận cuộc cách tân quyết liệt này. Một thế hệ tài năng mới hình thành, cả danh hiệu “tứ đại danh ca”, trong đó có nàng. Nàng không hiểu vì sao chỉ là ‘‘tứ đại’’, vì thế hệ này có thể kể đến ‘‘thập đại’’…

Một người ái mộ tài hát diễn của nàng sau này trở thành nhà nghiên cứu hàng đầu của hát bội đang ngồi trước mặt tôi đây cùng hát mấy trích đoạn của “Hoàng Phi Hổ quá giới bài quan” với nàng. Ông lớn hơn nàng mấy tuổi, cũng là người chứng kiến cuộc tranh luận cay xót của hai thế hệ tài danh mấy mươi năm trước. Họ hát, chỉ có giọng là còn âm vang…

 

2.

Chạng vạng tối, một người mặc áo bôn-nha, cái áo chẽn để múa võ, hách cánh cổng gỗ khép hờ vào nhà ông. Dưới chỉ còn độc cái quần đùi. Nghệ sĩ Trần Long của ‘‘tứ đại’’. Ông đang là chủ tịch kháng chiến xã, mê hát rồi chơi thân với các diễn viên này từ lâu. Ngạc nhiên hỏi sao áo quần kỳ cục, Trần Long cười ngượng không nói. Chắc là bán sạch hút rồi.

– Anh giúp tôi làm mấy đêm, hổm rày đói quá!

– Thôi cứ vô nhà kiếm gì ăn đã rồi tính.

Ông bảo vợ làm cơm rồi bà đi xé về mấy thước vải cắt may luôn trong đêm thành hai bộ bà ba.

– Hát thì được, sẵn mùa trăng biển nghỉ nghề, dân đông. Nhưng anh phải rút cho được mấy đào kép này…

– Được. Tôi đi luôn đêm nay. Đang hát Gò Bồi, tôi lẻn xuống đây. Chắc ông Ba Đựng làm thịt tui nhưng cũng liều. Với lại nếu ổng giết tui lấy ai đóng Địch Thanh, ai làm Bao Công, ai diễn Tiết Cương… Hà hà.

Ông ra trụ sở bàn với xã đội. Đôi bên cùng có lợi, dân được xem hát hay, đào kép có tiền, dân quân du kích cũng thêm quỹ. Chứ mấy đám ruộng còi nuôi quân chẳng ra sao.

Sáng hôm sau dân quân dựng sân khấu. Đơn giản lắm chứ không rườm rà phông màn đèn điện bây giờ. Chỉ một màn hậu, mấy vác lá đùng đình về kết, mấy mẻ đèn dầu treo là hát diễn, hát bằng chính giọng thật không qua mi- cờ- rô khuếch âm. Lại nói, cái giọng đặc biệt của nàng, hát tận Gò Bồi cách cả chục cây số đường chim bay mà mùa nam thuận gió, xóm Vũng của ông cũng nghe! Kèn trống thì cũng âm vọng từng chặp trong gió.

Sáng hôm sau lục tục kéo qua mấy diễn viên, nhạc công với đồ lề gọn nhẹ. Trốn đi, làm sao mang vác lịch kịch. Thiếu người diễn đã có đội văn nghệ Vũng rất sẵn bổ sung, thời này chủ yếu là hát bội với hô bài chòi.

Trần Long rủ được mấy đào kép xịn qua vì người Vũng mê hát, tiền thướng luôn cao, lại được ăn cá thỏa thích. Chuyện thướng điển hình là có ông gánh chiếu đổi cả gánh lấy tiền cầm chầu, hôm sau hết tiếp tục tới người quen mượn tiền đăng ký cầm tiếp, trả sau. Trả bằng tiền hay trả chiếu cũng được. Làng chiếu quê ông cách Vũng hơn hai chục cây số. Thời ấy không có khái niệm xù nợ. Ông này đặc biệt ở chỗ, ngày tang mẹ, dù mình là trai trưởng cũng phân đều chi phí cho các em, keo và tính toán lắm, nhưng với việc xem hát, cầm dùi trống thưởng phạt thì có thể bán lúa non mà chơi, dù Bình Định có câu “Trên đời có bốn cái ngu. Mai dong, lãnh nợ, nuôi cu, cầm chầu!”

Lần này hát đến bảy đêm chứ không phải ba đêm như dự tính, hát đến khi hết mùa trăng, dân còn yêu cầu là còn hát. Từ “Cổ thành” đến “Hộ sanh đàn”, từ “Hoàng Phi Hổ” đến “Đào Tam Xuân”, “Lữ Bố”, “Liễu Nguyệt Tiêm”… Lần đó Trần Long suýt bị ông Ba Đựng làm thịt: ông phải nuôi không dàn diễn viên nhạc công còn lại vì lèo tèo mấy mạng thường thường ai coi? Người Bình Định thuộc làu tuồng tích, coi hát bội là coi diễn viên hát diễn đã từ lâu mặc định qua sự khổ luyện bao thế hệ truyền lại. Hoàng Phi Hổ nằm miễu phải diễn thế nào, Tiết Cương chống búa, Châu Thương bắt ngựa, Tạ Ôn Đình đá giáp… làm sao, nếu hát diễn không thấu không tới là dân không coi. Những vở tuồng tiểu thuyết mỗi hồi diễn cả đêm, coi mỏi ra trước làm cuốn nem nướng, vài cái trứng lộn rồi vô coi tiếp. Ở nhà nghe kèn trống cũng hiểu tới lớp nào, ai đang diễn…

Mấy năm sau, khi Đoàn văn công liên khu V thành lập ông xin chuyển công tác theo đoàn, tập kết ra bắc với danh nghĩa diễn viên, được cử đi Trung Quốc học bảy năm đại học rồi nghiên cứu sinh ngành lý luận sân khấu thành nhà nghiên cứu, đã góp nhiều công trình quý giá cho hát bội nói riêng và cho lý luận sân khấu truyền thống.

 

3.

Mươi năm gần đây nàng sống với một người con ở thành phố trên Tây Nguyên, lâu lâu mới về Bình Định ít ngày với cô con gái út. Nàng sinh ra là để hát chứ không phải cho đời sống gia đình nhiều toan tính. Và cũng cháy vèo những rực rỡ, tăm tiếng cùng đời sống gia đình chật hẹp và những cuộc tình thoảng qua hay dai dẳng…

Nhờ sự tác động của nhiều nhân vật hoạt động ngành văn hóa, tỉnh cấp cho nàng một lô đất ở thành phố, chế độ nghệ sĩ ưu tú, sòng sành rồi đem bán, mấy tháng sau cũng hết vèo cho tiêu  pha, hùn hạp gì đó. Thực ra danh hiệu nghệ sĩ ưu tú là do ngành Văn hóa Bình Định làm hồ sơ cho “tứ đại danh ca” vì họ sừng sững sống trong dân chứ sau năm bảy lăm phần đông họ không về Nhà hát, đơn vị nhà nước, vì không quen cách quản lý mới. Những ông bầu xưa khác, và một phần chất nghệ sĩ cầm ca của họ, cũng khác. Họ mãi là các nghệ sĩ của nhân dân.

Tôi thường lại chơi nhà ông nên mỗi lần nàng về ghé thăm tôi đều gặp.

– Máu nghề mà, sao bác không dạy học trò cho vui?

– Nhà hát cũng đôi lần đề nghị nhưng tôi không làm. Mà bên ngoài đâu còn ai tha thiết học nghề này. Mấy gánh không chuyên giờ kiếm lựclượng trẻ không ra. Hết thời lâu rồi. Họ còn cầm cự được là may đó cậu.

Nàng thường gọi tôi là cậu, một cậu nhỏ có viết mấy bài báo về hát bội và tỏ ra vui mừng mỗi lần gặp người còn lại của ‘‘tứ đại’’.

– Giờ đã bát tuần mà bác vẫn còn giữ được làn da đẹp, còn nét quá, chắc xưa hàng hàng đàn ông mê? Tôi nịnh cho nàng vui. Quả nhiên mặt nàng thoáng đỏ, và vui hẳn ra.

– Già yếu hom hem rồi cậu à, xưa thì nói gì.

Và kể. Về những đêm diễn vĩ đại rực rỡ sự nồng nhiệt tán thưởng. Những khay thẻ thướng bay ào ào lên sân khấu. Những đón mời. Những đàn ông hâm mộ nữa, đương nhiên. Trong câu chuyện có nhắc tới ông, còn ông cười cười cũng lẳng, không rõ bao nhiêu đùa bao nhiêu thật chuyện hai người. Bao giờ nàng chào về, ông cũng giúi vào tay nàng ít tiền xe, tiền quà.

Lần này nàng về vì có ‘‘Liên hoan tuồng truyền thống toàn quốc’’ thành lệ cứ hai năm một lần các đoàn về hát diễn trên đất tuồng quê nàng. Nàng được mời, ghế danh dự bậc danh ca một thuở. Ngồi cạnh là ông, nhà nghiên cứu gạo cội. Hát bội không có tiếng trống chầu khiến nàng bứt rứt, cứ làm động tác gõ chầu tay theo nhịp hát, câu hát. Mọi thứ giờ khác quá… Ngay cả sân khấu nay cũng đẹp mắt bao màn cảnh với độ chuyên nghiệp của họa sĩ sân khấu. Nàng nhớ hát bội thời mình, chỉ có cái màn hậu, rạp trang trí bằng lá đùng đình, màn trướng kết thêm hạt cam thảo, còn mẻ đèn cháy bập bùng hai bên. Đâu có cảnh tắt đèn chuyển cảnh như bây giờ, ban nhạc và đào kép phải lo lấy các lớp lang: ra tuồng, đi lớp, màu tuồng, hạ tuồng… Chao ôi nhớ, mỗi đoạn ra tuồng, nội tiếng trống chiến, trống lệnh thúc rố lên, tiếng quân ó xa ó gần rộ lên dồn vọng lớp lớp, hát bội không chỉ tạo không khí cho sân khấu, nó phục dựng không gian nghệ thuật bằng nghệ thuật hát bội được truyền dạy kỹ càng từng vai diễn, từng kỹ thuật tạo nên sự cộng thông tuyệt vời giữa tuồng tích và cuộc đời, giữa diễn viên, sân khấu và công chúng. Không thể khác, vì khác là không còn hát bội.

Giờ họ đang làm gì kia với những tích tuồng đã ăn sâu trong niềm yêu của công chúng đất này như tín ngưỡng? Khác quá, khác lắm!…

Nàng cứ miên man trong những đối sánh vô thức, bên cạnh nghe ông làu bàu điều gì đó. Hôm ấy đoàn Bắc diễn ‘‘Tam nữ đồ vương’’, tới đoạn Tạ Ngọc Trân đấu với con Tạ Kim Hùng, ôm con lao vào lửa, sân khấu rực lửa kỹ xảo. Còn diễn viên, các em diễn lấy có. Nàng nghẹn ứ trong cổ. Đâu rồi Tạ Kim Hùng nhảy lửa vì lửa đốt? Đâu rồi cảnh cha con đấu lưng trong lửa? Lớp ‘‘Lão Tạ lăn lửa’’ không còn nữa. Nàng níu tay ông, anh, hết rồi, bữa nay bọn trẻ nó diễn vầy còn gì hát bội nữa. Ông cũng run người, xúc động không kém. Trên đường lững thững về ông chợt hỏi, em có nhớ cuộc tranh luận với chú Mười Thanh mấy chục năm trước không. Cả hai cười như mếu… ‘‘Bọn bay hát vậy là khi sư diệt tổ…, là bá đạo…’’

Vậy, hát bội giờ của nàng là thủ cựu hay của họ là “bọn bá đạo”? Nhưng nàng và các anh Trần Long, Hoàng Canh… đã làm cho hát bội sống mấy chục năm qua. Giờ thấy người ta trả lương tháng cho đào kép để hát diễn vì truyền thống. Cái truyền thống mà nếu không trả tiền gìn giữ có thể sẽ tiêu vong. Phải không?…

Về tới nhà, đột nhiên ông đề nghị hát, cùng hát. Tôi cũng từ chỗ hát bội về cùng, mừng vui nghe hai người đối ca, ngồi đối diện nhau ca chứ không diễn, tám mấy rồi còn gì. Ông tuy giọng còn vang nhưng đã xì hơi vì mấy cái răng trống. Nàng tuy không xì hơi nhờ hàm răng giả nhưng cũng yếu hơi hẳn. Họ hát đoạn hồn Giả Thị gặp Hoàng Phi Hổ lớp ‘‘Hoàng Phi Hổ quá giới bài quan’’. Nàng hát câu nam hồn Giả Thị rợn người. ‘‘Aí tía tỏ lời sinh tử. Kể khôn cùng để sự thê lương’’. Và câu tán ‘‘ Hồn lai phong lâm thanh phiêu phiêu hề di thế. Giang tâm thu nguyệt bạch diếu diếu hề tương vong’’. Câu này tôi nghe ông khen nhiều lần, và giảng nghĩa rằng, ‘‘hồn về rừng thông xanh chơi vơi trong cõi thế, trăng rọi lòng sông buốt hai cuộc đời tiêu tan’’. Kể không cùng để sự…, ừ đúng, đây là câu của hồn ma, nó vọng rợn, nó ám đến lạnh lưng.

Tôi ngồi ngó sững hai người nổi tiếng. Ở họ vẫn còn được ánh mắt hạnh phúc nhớ lại, thể hiện lại một thời vang bóng. Ông thì gì cũng để lại mấy cuốn sách quan trọng cho hậu thế muốn để tâm nghiên cứu, tra cứu, dạy học, nhưng nàng thì chỉ còn cái tiếng, cái tiếng tăm đào kép một thuở, tất cả qua rồi, giờ đã qua lâu rồi.

Buổi sáng. Mặt trời rực lên trên vách nhà bên kia đường hắt đúng vào giây phút hai người hoài niệm thuở vàng son. Tôi rùng mình và miên man cuốn vào khoảnh khắc xuất thần không phải vì nuối tiếc ngày xưa. Dù cái ngày xưa đó ông còn nhiều lần nhiệt tình đề xuất bằng các bài báo, bằng gặp trực tiếp cán bộ quản lý chuyên ngành nêu cách cứu nó, những gắng gỏi theo niềm yêu và máu thịt một đời. Dù nàng còn chép miệng than theo ông. Cũng chỉ bộc lộ rõ sự buồn bã và bất lực của hai người.

Còn mất mọi sự đều có quy luật, đều theo quy luật. Chỉ tôi cảm ơn tôi có mặt nhà ông hôm nay để vô tình chứng kiến ánh hồi quang hiu hắt trước khi mọi thứ biến mất hoặc biến dạng.

 

Trại viết VNQĐ, Bến Tre 13/ 7/2010

 

                      Quy Nhơn, 7/2011- 9/2011

Tháng Hai 27, 2012 - Posted by | Làng văn

Chưa có phản hồi.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: